Từ khoản vay 121 tỷ đến khoản nợ gần 197,5 tỷ đồng

Công ty TNHH H. (Hà Nội) vay vốn tại Ngân hàng T. - Chi nhánh H. theo hai hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng thứ nhất được ký ngày 31/10/2011 với số tiền vay 117 tỷ đồng, để góp vốn đầu tư vào dự án Khu B-Đ, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Ngân hàng T. đã giải ngân hai lần, tổng cộng 117 tỷ đồng.

Hợp đồng thứ hai ký ngày 29/6/2012, số tiền vay 4 tỷ đồng, mục đích thanh toán tiền tạm ứng thi công xây dựng. Khoản vay này được ngân hàng giải ngân một lần.

Tổng số tiền Công ty H. vay theo hai hợp đồng là 121 tỷ đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H. không có khả năng thanh toán đầy đủ, đúng hạn nên có văn bản đề nghị ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần đồng ý cơ cấu, gia hạn thời gian trả nợ và điều chỉnh lịch trả lãi, trả gốc.

Đáng chú ý, với khoản vay 117 tỷ đồng, các bên đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung hợp đồng từ năm 2012 đến năm 2014. Đến thỏa thuận năm 2014, thời hạn trả lãi được gia hạn đến ngày 31/3/2016, còn dư nợ gốc được cam kết trả theo từng đợt trong năm 2015 và phần còn lại chậm nhất đến ngày 31/3/2016.

Đối với khoản vay 4 tỷ đồng, ngân hàng cũng gia hạn thời gian trả nợ gốc đến ngày 1/7/2014, sau đó tiếp tục gia hạn toàn bộ lãi đến ngày 31/3/2016.

W-doanh nghiep vay tien.jpg
Từ khoản vay gốc 121 tỷ của một doanh nghiệp ở Hà Nội bị đội lên gần 197,5 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ, nhưng cuối cùng chỉ phải trả 125 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Theo ngân hàng, dù đã nhiều lần cơ cấu nợ để tạo điều kiện cho Công ty H. tiếp tục kinh doanh, doanh nghiệp vẫn không thanh toán đầy đủ và đúng hạn.

Tổng số tiền Công ty H. đã thanh toán theo các hợp đồng được phía ngân hàng xác định là hơn 131,7 tỷ đồng, gồm hơn 84 tỷ đồng tiền gốc và hơn 47,6 tỷ đồng tiền lãi.

Sau đó, ngân hàng tiếp tục có các phương án cơ cấu nợ. Theo Công ty H., ngày 15/3/2017, Ngân hàng T. ban hành nghị quyết về cơ cấu lại khoản nợ, xác định doanh nghiệp còn nợ gốc hơn 112,4 tỷ đồng và 35 tỷ đồng tiền lãi.

Đến ngày 27/11/2020, ngân hàng tiếp tục thông qua phương án trả nợ. Theo phương án này, tổng số nợ được xác định hơn 95,5 tỷ đồng, trong đó nợ gốc hơn 56,1 tỷ đồng.

Đến ngày 31/3/2022, Công ty H. thanh toán thêm 10 tỷ đồng tiền gốc. Ngày 12/3/2024, doanh nghiệp tiếp tục thanh toán 5 tỷ đồng, đưa dư nợ gốc xuống còn hơn 36,9 tỷ đồng theo trình bày của công ty.

Tuy nhiên, phía ngân hàng cho rằng Công ty H. vẫn tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay được chuyển sang nợ quá hạn.

Ngày 27/7/2023, Ngân hàng T. bán khoản nợ của Công ty H. cho Công ty CP M., sau đó công ty này lại bán khoản nợ cho Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo các hợp đồng mua bán nợ.

Tạm tính đến ngày 9/6/2025, phía nguyên đơn yêu cầu Công ty H. thanh toán tổng cộng hơn 197,4 tỷ đồng, bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn.

Do đó, nguyên đơn đề nghị TAND quận Nam Từ Liêm buộc Công ty H. thanh toán số tiền còn nợ nói trên.

Khoản nợ được các bên thỏa thuận còn 125 tỷ đồng

Tại bản sơ thẩm, TAND quận Nam Từ Liêm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q., buộc Công ty H. thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày 9/6/2025 là hơn 197,4 tỷ đồng, cùng các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong.

Bản án sơ thẩm cũng tuyên, nếu Công ty H. không trả hoặc trả không đủ nợ cho VAMC, VAMC có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 592,1m2 đất tại thửa N5, Khu đô thị M., Hà Nội, theo giấy chứng nhận cấp cho Công ty H., cùng toàn bộ công trình và phần diện tích được cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản thế chấp.

Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản không đủ trả nợ, Công ty H. vẫn phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu; nếu dư, khoản tiền còn lại được trả cho chủ sở hữu.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty H. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án. Ngoài đơn kháng cáo, công ty không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện các bên liên quan đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết vụ án và đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận này.

Ngày 27/8/2026, các bên lập biên bản thỏa thuận, theo đó Công ty H. xác nhận nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền 125 tỷ đồng theo hai hợp đồng tín dụng. Khoản tiền này được thanh toán thành 9 đợt, từ tháng 9/2026 đến tháng 5/2027, theo lịch đã thống nhất.

Các khoản thanh toán được thực hiện trong khoảng từ ngày 25 đến ngày 30 hằng tháng bằng hình thức chuyển khoản hoặc nộp tiền vào tài khoản theo thỏa thuận của các bên.

Nếu Công ty H. vi phạm thỏa thuận tại bất kỳ đợt thanh toán nào, doanh nghiệp phải chịu lãi chậm trả 10%/năm trên tổng số tiền chưa thanh toán, tính từ ngày vi phạm đến khi trả xong khoản nợ.

Bên cạnh đó, Ngân hàng T. và Công ty CP M. có quyền đề nghị cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nếu Công ty H. không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận.

HĐXX phúc thẩm nhận định các bên tự nguyện thỏa thuận để giải quyết toàn bộ vụ án, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các bên.

Theo quyết định của tòa phúc thẩm, bản án sơ thẩm được sửa, Công ty H. có nghĩa vụ thanh toán 125 tỷ đồng theo đúng lộ trình đã thống nhất.

(Bài viết dựa trên Bản án số 157/2026/KDTM-PT ngày 27/8/2026 của TAND TP Hà Nội).