
Thế chấp 5 thửa đất, vay gần 20 tỷ đồng
Cuối năm 2023 và đầu năm 2024, bà Hồ Thị Ngọc Nh. ký hai hợp đồng tín dụng với một ngân hàng thương mại cổ phần để mua bất động sản tại huyện H2, tỉnh Bình Thuận (cũ).
Cụ thể, ngày 25/12/2023, bà Nh. ký hợp đồng vay hơn 18,5 tỷ đồng với thời hạn 300 tháng (từ ngày 26/12/2023 đến ngày 26/12/2048) nhằm thanh toán tiền mua các thửa đất tại xã S, huyện H2. Lãi suất cho vay trong hạn là 9,9%/năm, cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó điều chỉnh lãi suất 3 tháng/lần theo biên độ 3,5%/năm.
Tiếp đó, ngày 23/2/2024, bà Nh. tiếp tục vay hơn 1,1 tỷ đồng để hoàn vốn tự có đã dùng mua các bất động sản nói trên. Khoản vay này cũng có thời hạn 300 tháng và áp dụng mức lãi suất tương tự.
Để đảm bảo cho các khoản vay, bà Nh. thế chấp 5 quyền sử dụng đất tại xã S, huyện H2, tỉnh Bình Thuận. Các tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Theo ngân hàng, từ ngày 15/7/2024, bà Nh. đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên toàn bộ khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn.
Sau nhiều tháng không khắc phục nghĩa vụ thanh toán, đến cuối năm 2024, ngân hàng ký hợp đồng bán khoản nợ phát sinh từ hai hợp đồng tín dụng của bà Nh. cho Công ty CP M. Sau khi mua nợ, công ty này nhận chuyển nhượng 90% quyền đối với khoản nợ, bao gồm quyền khởi kiện và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Dù phía ngân hàng và công ty mua nợ nhiều lần yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà Nh. không thực hiện.
Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của bà Nh. xác nhận các khoản vay, tài sản thế chấp và số nợ mà nguyên đơn đưa ra là đúng.
Tính đến ngày 3/9/2025, tổng dư nợ của bà Nh. là hơn 22,45 tỷ đồng, gồm gần 19,7 tỷ đồng nợ gốc và hơn 2,78 tỷ đồng tiền lãi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho bà Nh. có thêm 12 tháng để thanh toán toàn bộ khoản nợ.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận định các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đều được ký kết hợp pháp, nội dung phù hợp quy định pháp luật. Việc bà Nh. vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm phát sinh quyền yêu cầu thanh toán và xử lý tài sản bảo đảm của bên cho vay.
Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP M. và ngân hàng, buộc bà Nh. thanh toán tổng cộng hơn 22,45 tỷ đồng.
Trong đó, bà Nh. phải trả cho Công ty CP M. hơn 20,2 tỷ đồng, tương ứng phần sở hữu 90% khoản nợ; trả cho ngân hàng hơn 2,24 tỷ đồng, tương ứng 10% khoản nợ còn lại.
Ngoài ra, kể từ sau ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Nh. vẫn phải tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hai hợp đồng tín dụng.
Trường hợp bà Nh. không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Công ty CP M. và ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại 5 thửa đất đã thế chấp để thu hồi nợ.
Tòa phúc thẩm giảm gần 148 triệu đồng tiền lãi
Sau phiên sơ thẩm, người đại diện của bà Nh. kháng cáo một phần bản án về phần tính lãi và tiền phạt chậm trả lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn đồng ý điều chỉnh lại thời điểm tính lãi quá hạn từ ngày 15/6/2024 sang ngày 15/7/2024 đối với cả hai hợp đồng tín dụng.
Theo phía nguyên đơn, sau khi tính lại, tổng số tiền lãi của hai khoản vay giảm hơn 147,6 triệu đồng, còn khoảng 2,635 tỷ đồng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định việc điều chỉnh này phù hợp quy định pháp luật và có lợi cho bị đơn. Đồng thời, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất trong hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng nên tòa chấp nhận kháng cáo của bà Nh., sửa một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất.
Theo bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày 26/1/2026, bà Nh. phải thanh toán tổng cộng hơn 22,3 tỷ đồng cho Công ty CP M. và ngân hàng, giảm khoảng 147,6 triệu đồng so với án sơ thẩm.
Trong đó, số tiền phải trả cho Công ty CP M. là hơn 20,07 tỷ đồng; khoản phải trả cho ngân hàng là hơn 2,23 tỷ đồng.
