Nếu quan sát thị trường ô tô hiện nay, người dùng rất dễ bắt gặp cấu hình động cơ 2.0L 4 xi-lanh. Từ Toyota, Honda, Hyundai đến BMW, Mercedes-Benz hay Land Rover, cấu hình động cơ này xuất hiện ở nhiều phân khúc khác nhau như Sedan, Crossover, SUV phổ thông cho tới xe sang. Đằng sau sự phổ biến đó là một con số đặc biệt và 500cc mỗi xi-lanh được xem là "điểm ngọt" của động cơ đốt trong.

500cc mỗi xi-lanh có gì đặc biệt?

Động cơ 2.0L có tổng dung tích 2.000cc, khi chia cho 4 xi-lanh, mỗi xi-lanh có dung tích khoảng 500cc. Trang Car And Driver từng dẫn nghiên cứu kỹ thuật động cơ của các nhà khoa học Đức cho rằng, dung tích khoảng 500cc/xi-lanh được xem là vùng tối ưu tương đối tốt cho sự cân bằng giữa hiệu suất nhiệt, khả năng đốt cháy nhiên liệu và tổn thất nhiệt.

Dong co Honda.jpg
Động cơ 2.0L 4 xi-lanh đang là cầu hình phổ biến nhất trong các dòng xe hiện nay. Ảnh: Car And Driver

Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ (NASEM) cũng ghi nhận khoảng 500cc là dung tích xi-lanh có lợi thế về hiệu suất trong thiết kế động cơ hiện đại. Nếu xi-lanh quá nhỏ, tỷ lệ diện tích thành xi-lanh so với thể tích buồng đốt tăng, khiến nhiều nhiệt bị truyền ra thành xi-lanh thay vì biến thành công có ích. Ngược lại, xi-lanh quá lớn có thể khiến quá trình lan truyền ngọn lửa trong buồng đốt kém tối ưu.

Tuy nhiên, đây không phải quy tắc cứng áp dụng cho mọi động cơ, bởi hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào tỷ số đường kính/hành trình piston, tỷ số nén, hình dạng buồng đốt, tốc độ động cơ và hệ thống nạp - xả. Điều này lý giải vì sao các cấu hình như 2.0L 4 xi-lanh, 3.0L 6 xi-lanh hay 4.0L 8 xi-lanh thường xuất hiện phổ biến trong ngành ô tô và xoay quanh công thức khoảng 500cc/xi-lanh.

Động cơ 4 xi-lanh giúp giảm ma sát, tiết kiệm nhiên liệu

Một động cơ có càng nhiều xi-lanh thì càng có nhiều piston, xéc-măng và các chi tiết chuyển động. Ma sát cơ học vì thế cũng tăng lên. Trong bối cảnh các hãng xe phải đáp ứng ngày càng nghiêm ngặt các yêu cầu về mức tiêu thụ nhiên liệu và khí thải, giảm dung tích và số xi-lanh trở thành hướng đi quan trọng.

Toyota Corolla 2021.jpg
Tiêu chuẩn khí thải và tiết kiệm nhiên liệu khiến các nhà sản xuất đẩy mạnh việc giảm dung tích động cơ. Ảnh: Toyota

Các tiêu chuẩn mức tiêu hao nhiên liệu trung bình của doanh nghiệp (CAFE) tại Mỹ đã thúc đẩy các hãng cải thiện đáng kể hiệu quả nhiên liệu của toàn bộ danh mục sản phẩm. Các mục tiêu nhiên liệu được xây dựng theo kích thước xe, buộc nhà sản xuất phải tối ưu cả hệ truyền động thay vì chỉ tập trung vào từng mẫu xe riêng lẻ.

Điều này tạo động lực mạnh để nhà sản xuất giảm dung tích và số xi-lanh, đồng thời sử dụng công nghệ tăng áp, phun nhiên liệu trực tiếp và điều khiển van biến thiên. Động cơ 4 xi-lanh vì thế trở thành lựa chọn hợp lý để thay thế một phần động cơ V6 và V8 trước đây.

Công nghệ tăng áp turbo giúp động cơ 2.0L thành "máy lớn"

Nếu chỉ sử dụng động cơ hút khí tự nhiên, động cơ 2.0L có thể không đủ sức đáp ứng kỳ vọng về khả năng tăng tốc trên những mẫu xe lớn. Đây là lúc tăng áp turbo phát huy tác dụng. Turbo tận dụng năng lượng của khí xả để nén thêm không khí vào động cơ. Lượng không khí lớn hơn cho phép hệ thống phun thêm nhiên liệu và tạo ra nhiều công suất hơn.

mercedes benz cls class_100748538_h.jpg
Việc kết hợp hệ thống tăng áp turbo giúp động cơ 2.0L có sức mạnh tương đương với động cơ V6 có dung tích lớn hơn. Ảnh: Mercedes-Benz

Theo Mercedes-Benz, động cơ 4 xi-lanh 1.991cc kết hợp bộ tăng áp turbo trên CLS 350 có thể đạt công suất 299 mã lực và mô-men xoăn 400 Nm cho thấy một động cơ tăng áp 2.0L hoàn toàn có thể cung cấp sức mạnh từng gắn với những động cơ V6 dung tích lớn hơn.

Xu hướng giảm dung tích này cũng được nhiều hãng áp dụng rộng rãi. Honda từng chỉ ra rằng giảm dung tích từ 2.0L xuống 1.5L có thể giảm đáng kể tổn thất ma sát, nhưng cần tăng áp turbo để bù lại phần mô-men xoắn bị mất. Động cơ 1.5 VTEC Turbo đang là minh chứng rõ nét cho điều này.

Lợi thế về sự nhỏ gọn, dễ lắp đặt và giảm chi phí sản xuất

Một động cơ 4 xi-lanh thẳng hàng có thiết kế tương đối gọn, cấu trúc này hẹp hơn động cơ V6, giúp các kỹ sư có thêm không gian cho khoang động cơ. Điều này đặc biệt hữu ích với xe dẫn động cầu trước, khi động cơ có thể đặt ngang để tiết kiệm không gian.

Quan trọng hơn, một nền tảng động cơ 500cc/xi-lanh có thể được mở rộng thành nhiều dung tích khác nhau. Chẳng hạn, cùng một kiến trúc cơ bản có thể phát triển thành động cơ 1.5L 3 xi-lanh, 2.0L 4 xi-lanh hoặc 3.0L 6 xi-lanh. Với các hãng xe toàn cầu, cách tiếp cận này giúp chia sẻ nhiều linh kiện, quy trình sản xuất và giảm chi phí nghiên cứu phát triển.

dong co Toyota .jpg
Động cơ Dynamic Force 2.0L 4 xi-lanh của Toyota có thể áp dụng cho cả xe chạy xăng và xe hybrid. Ảnh: TMC 

Toyota là một ví dụ đáng chú ý về khả năng tối ưu động cơ 2.0L. Động cơ Dynamic Force 2.0L 4 xi-lanh của hãng sử dụng phun nhiên liệu trực tiếp, tỷ số nén cao, hành trình piston dài, hệ thống làm mát biến thiên và nhiều giải pháp giảm tổn thất cơ học.

Theo Toyota, phiên bản động cơ xăng đạt hiệu suất nhiệt tối đa 40%, trong khi phiên bản dành cho xe hybrid đạt 41%. Hãng cũng cho biết các công nghệ mới giúp tăng mô-men xoắn ở nhiều dải vòng tua và đáp ứng các yêu cầu khí thải tương lai.

Vì vậy, động cơ 2.0L 4 xi-lanh không phải lựa chọn ngẫu nhiên. Đây là kết quả của hàng chục năm tối ưu hóa giữa hiệu suất nhiệt, ma sát, sức mạnh, kích thước, chi phí sản xuất và tiêu chuẩn khí thải. Trong thời đại điện hóa, cấu hình này có thể dần giảm vai trò khi xe điện phổ biến hơn. Tuy nhiên, với xe xăng và hybrid, động cơ 2.0L 4 xi-lanh vẫn là một trong những cấu hình có tính kinh tế và kỹ thuật hấp dẫn nhất.

Tổng hợp (Theo Toyota, Honda, CAFE, NASEM)

Hãy chia sẻ ý kiến của bạn tới Báo VietNamNet theo email: otoxemay@vietnamnet.vn. Các nội dung phù hợp sẽ được đăng tải. Xin cảm ơn!