Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?

Dù đã chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa.

 - Dù đã chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa. 

>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa

Năm 2018 là thời điểm đánh dấu tròn 44 năm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo có vị trí quan trọng trên biển Đông đang trong tầm kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa đã bị mất vào tay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Từ đó cho đến nay, biển Đông chưa được yên tĩnh, những sự kiện nối tiếp nhau kéo dài từ biển Đông cho tới biển Hoa Đông đã khiến nhiều người ví von khu vực Đông Á hiện nay như đang nằm trên một thùng thuốc súng.

Vì sao Trung Quốc dùng vũ lực để tấn chiếm Hoàng Sa vào thời điểm năm 1974 vẫn là một câu hỏi có nhiều câu trả lời khác nhau. Và việc tìm hiểu và lý giải quá khứ luôn là một phương cách để dự báo cho tương lai. Bài viết này nhằm đưa ra một cách lý giải về lý do và mục đích mà Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974.

 

{keywords}
Hải chiến Hoàng Sa 1974 khai hỏa

Vì sao các quốc gia sử dụng sức mạnh quân sự trong các tranh chấp lãnh thổ?

Khi phân tích về lý do cũng như thời điểm mà một quốc gia sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp lãnh thổ nào đó, nhiều học giả cho rằng đó là do vị thế của quốc gia đó trong tranh chấp bị yếu đi. Sự yếu đi về vị thế này làm cho quốc gia cảm thấy mình sẽ không còn lợi thế khi "mặc cả lợi ích" trong việc giải quyết tranh chấp (bargaining power).

Lợi thế trong cuộc "mặc cả lợi ích" được M. Taylor Fravel, Phó giáo sư về Khoa học chính trị, Đại học MIT, định nghĩa bao gồm: i) Diện tích lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia thực sự chiếm giữ; ii) Sức mạnh quân sự của quốc gia trong đối sánh với sức mạnh quân sự của đối phương.

Khi một quốc gia thấy rằng vị thế của đối phương trong tranh chấp ngày càng tăng lên, đồng nghĩa với việc vị thế của họ ngày càng suy giảm, thì rất có khả năng quốc gia đó sẽ tiến hành biện pháp quân sự để khôi phục vị thế của họ. Thậm chí, để gia tăng vị thế của mình, họ còn có thể sử dụng biện pháp quân sự để có thể kiểm soát toàn bộ khu vực.

Mục đích Trung Quốc chiếm Hoàng Sa

Khi thành lập 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát rất ít trong số 4 quần đảo, bãi ngầm tại biển Đông, cũng như không kiểm soát được khu vực đảo Đài Loan. Trung Quốc lúc này đã phải đối đầu với các thách thức, chẳng hạn từ chính quyền Quốc Dân Đảng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, cũng như trên các đảo ngoài khơi khác tại khu vực biển Đông và biển Hoa Đông.

Năm 1951, Trung Quốc đã chính thức đưa ra yêu sách về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng bị nhiều quốc gia khác phản đối. Tuy nhiên, sau này, Trung Quốc đã quyết định dùng sức mạnh để chiếm đoạt hoàn toàn Hoàng Sa năm 1974.

Trung Quốc đã thực hiện việc sử dụng vũ lực vào một bối cảnh khiến vị trí của họ đã bị suy giảm khi: i) Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tích cực mở rộng sự có mặt trên Hoàng Sa; ii) và các lợi ích ngày càng thấy rõ của biển khơi, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ, khi thế giới đang bước vào cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970.

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính, nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) nằm ở phía Tây Nam quần đảo, nhóm An Vĩnh (Amphitrite) nằm ở phía Đông Bắc. Năm 1956 quân đội Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm (Woody) thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite). Trước đó, quân đội Pháp đã chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen), rồi đến năm 1956, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thay chân Pháp kiểm soát đảo này.

Trung Quốc, khi nhìn thấy những lợi ích của các vùng biển này, đã quyết định phải kiểm soát được tất cả các đảo thuộc Hoàng Sa, vì trước đó, khoảng giữa những năm 1950, các đoàn tàu thương mại của Trung Quốc đã buộc phải đi qua vùng biển cạnh khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen). Năm 1959, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ các đảo này, buộc các ngư dân Trung Quốc phải tránh xa  khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen) này.

Tuy Việt Nam Cộng hòa không tỏ ra có hành động đe dọa nào đối với Trung Quốc tại nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite), với ý định mỗi bên sẽ kiểm soát các khu vực biển thuộc xung quanh nhóm đảo mà họ đang kiểm soát, nhưng các hành động này của Việt Nam Cộng hòa đã làm suy giảm lợi thế của Trung Quốc. Và, vì thế, Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh quân sự như một biện pháp để phục hồi lại vị thế lợi ích của mình tại đây.

Vào đầu những năm 1970, các lợi ích từ tài nguyên biển trên biển Đông trở nên rất quan trọng.

Năm 1970, Philippines hoàn thành việc khảo sát địa chấn tại các vùng nước xung quanh Trường Sa, và năm 1971 bắt đầu tiến hành khoan thăm dò. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa cũng bắt đầu việc khai thác nguồn dầu khí ngoài khơi, và tháng 7/1973 Sài Gòn đã ký kết 8 hợp đồng khoan thăm dò tại những nơi được cho là có nhiều dầu mỏ trên biển Đông. Tháng 1 và tháng 3/1973, Việt Nam Cộng hòa cũng đã cho tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực xung quanh nhóm đảo Nguyệt Thiềm.

Còn tháng 12/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng công bố cho thấy triển vọng của các giếng dầu ở ngoài khơi Vịnh bắc Bộ, phía bắc của quần đảo Hoàng Sa.

Với những giá trị kinh tế của các nhóm đảo ngoài khơi ngày càng gia tăng, các quốc gia khác cũng bắt đầu giành lấy những cấu trúc tại Hoàng Sa, Trường Sa, ở những nơi mà Trung Quốc hoàn toàn không có sự hiện diện nào. Để củng cố cho các yêu sách của mình, Philippines đã chiếm 5 đảo và đá tại Trường Sa trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 1971. 

Tháng 9/1973, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa vào địa bàn tỉnh Phước Tuy. Các hành động của các quốc gia này chỉ trong chưa đầy 3 năm đã đẩy Trung Quốc vào thế bất lợi.

Để đáp lại những hành động đó, Trung Quốc quyết định mở rộng sự hiện diện của mình trên những hòn đảo ngoài khơi biển Đông, nơi có ít sự trợ giúp của các lực lượng hải quân của các quốc gia khác.

Đặc biệt, sau cuộc gặp lịch sử giữa Mao Trạch Đông với Nixon vào đầu năm 1972, và sự kiện Mỹ rút ra khỏi Việt Nam sau Hiệp định Paris đầu năm 1973, Bắc Kinh đã thấy trước một khả năng mới: Họ có thể loại trừ khả năng can thiệp của Hải quân Mỹ nếu cưỡng chiếm các hòn đảo thuộc do Việt Nam Cộng hòa quản lý.

Trung Quốc đã sử dụng các ngư dân để gia tăng sự hiện diện của họ trên vùng biển nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) từ năm 1973. Ngày 9/1/1974, các ngư dân Trung Quốc từ đảo Hữu Nhật (Robert) áp sát tới gần đảo Hoàng Sa (Pattle) - nơi mà Việt Nam Cộng hòa đang đóng quân trên đó. Ngày 11/1, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc công khai thách thức Tuyên bố tháng 9/1973 của Việt Nam Cộng hòa.

Giữa tháng 1/1974, các tình huống đối đầu trở nên căng thẳng hơn. Tiếp theo các tuyên bố của Bắc Kinh, Sài Gòn gửi thêm một số tàu chiến tới khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen), trục xuất các ngư dân Trung Quốc ra khỏi khu vực này. Từ đó đã dẫn tới sự kiện ngày 19-20/1/1974, mà sau đó Trung Quốc đã giành được quyền kiểm soát trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bằng sức mạnh quân sự của mình.

Kết luận

Mục đích làm gia tăng vị thế lợi ích là mô tả rõ nhất lý do vì sao và khi nào Trung Quốc sử dụng vũ lực trong việc chiếm lãnh thổ của các quốc gia khác. Hoàng Sa là một ví dụ cụ thể, Trung Quốc đã cho thấy sự quyết đoán của họ khi vị thế của họ bị sụt giảm, đặc biệt khi gặp một đối thủ không mạnh hoặc khi Trung Quốc kiểm soát rất ít, Trung Quốc sẽ tìm cách ra tay.

Tuy nhiên cho dù đã chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa. 

Hoàng Việt

Trung Quốc cưỡng chiếm trái phép Hoàng Sa

Trung Quốc cưỡng chiếm trái phép Hoàng Sa

Dù bị thế giới lên án, Trung Quốc đã nhảy vào cưỡng chiếm Hoàng Sa, với rắp tâm biến vùng lãnh thổ của quốc gia khác thành "vùng tranh chấp".

40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay

40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay

 Trong bối cảnh một nước Việt Nam thống nhất và có chiều hướng thân Liên Xô sắp thành hình, Bắc Kinh quyết định ra tay trước, chiếm lấy toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, bài học lịch sử

40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, bài học lịch sử

Nhìn lại và trân trọng lịch sử cũng là cách để người Việt biết chúng ta đã và đang mất những gì để từng ngày nuôi dưỡng ý chí khôi phục.

 

tin nổi bật

Người Do Thái dạy trẻ con làm nông nghiệp, trở thành những thanh niên biết làm giàu

Israel nổi tiếng là một quốc gia phát triển về nông nghiệp công nghệ cao (agtech). Bằng trí tuệ và lao động, họ đã biến vùng đất với hơn 60% diện tích là sa mạc thành những nông trại trù phú.

Cho cán bộ yếu kém từ chức, Hà Nội có nói và làm

Kế hoạch số 205/KH-UBND vừa được UBND TP Hà Nội ban hành yêu cầu các cơ quan, quận huyện kịp thời miễn nhiệm, cho từ chức, thay thế cán bộ có năng lực hạn chế, uy tín thấp, mắc sai phạm mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.

Bóng dáng Trung Quốc trong thảm họa kinh tế của Sri Lanka

Sri Lanka trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất 7 thập kỷ qua, khi Tổng thống bỏ đi lánh nạn giữa làn sóng biểu tình chống đối và gửi email xin từ chức từ nước ngoài, buộc quốc hội phải bầu người thay thế.

Sao cứ để người bị kỷ luật rao giảng đạo đức

Trong hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết Trung ương 5 (khóa 13) vừa qua, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương có những phát biểu mang tính định hướng rất quyết liệt.

Từ Vị Xuyên đến nghĩa trang Trường Sơn: Chiếc xe lăn Bộ trưởng trao cho thương binh

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng lặng lẽ cắm nén hương lên bàn thờ các anh hùng liệt sỹ ở nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn.

Một thời chảo lửa túi bom, nay dựng đền thờ chung, làm giỗ tập thể

Đến Quảng Trị trong cái nắng cháy da cháy thịt, sự khốc liệt của chiến tranh đã ngấm sâu vào lòng đất thiêng, hiện hình qua từng nhành cây, ngọn cỏ, qua tấm bia chứng tích hay ghi danh liệt sĩ.

Khủng hoảng năng lượng: Nỗi lo toàn cầu

Không chỉ ở Mỹ và châu Âu, cuộc khủng hoảng năng lượng đang khiến giá cả tại các lục địa leo thang.

Giải pháp tái thiết quan hệ Australia - Trung Quốc

Quan hệ Australia - Trung Quốc cần được thiết lập lại, đặc biệt về thương mại. Sự thay đổi chính phủ ở Canberra và phản ứng chính thức của Bắc Kinh tạo cơ hội hiếm có để hai nước tái xây dựng quan hệ và ngăn chặn các va chạm mới.

Các đảo quốc Thái Bình Dương trong cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung

Không lâu sau khi lên nắm quyền vào năm 2012, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố “khu vực Thái Bình Dương rộng lớn đủ chỗ cho cả Trung Quốc và Mỹ”.

Chọn người hiền tài: Hào kiệt đời nào cũng có

Cô đọng nhất, theo ngữ nghĩa, người hiền tài là người vừa hiền lại vừa tài. Kinh điển nhất, người hiền tài là nguyên khí của quốc gia.

Cảm tình với Việt Nam của ông Abe - vị Thủ tướng có đôi tay mềm ấm

Tôi cảm nhận được rằng ông Abe Shinzo là người gần gũi. Khi bắt tay ông, tôi thấy rất mềm và ấm. Tôi học được ông 2 điều, đó là sự chủ động và quyết đoán.

Abe Shinzo: Chính trị gia định hình nước Nhật thời hiện đại

Cố Thủ tướng Abe Shinzo là chính trị gia đã định hình lại nước Nhật trong thời kỳ hiện đại, để lại nhiều di sản về cả kinh tế, chính trị lẫn xã hội.

10 năm luật Biển: Cơ sở pháp lý để trở thành quốc gia mạnh từ biển

Ngày 21/6/2012, Quốc hội thông qua luật Biển đầu tiên. Luật biển Việt Nam 2012 đã pháp điển hoá các quy định của Công ước LHQ về luật biển - UNCLOS và Tuyên bố chính phủ về các vùng biển Việt Nam ngày 12/5/1977.

Vị 'quốc khách' và bức thư của Thủ tướng Abe gửi Đại sứ Việt Nam

Cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo từng nói rằng, cá nhân ông rất coi trọng Việt Nam và có tình cảm đặc biệt với các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Từ bài học về cán bộ, làm gì để 3 đầu tàu lấy lại phong độ?

Ba thành phố Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng từ lâu đã trở thành đầu tàu kinh tế cả nước. TP.HCM và Hà Nội luôn ở vị trí thu ngân sách cũng như đóng góp vào ngân sách quốc gia nhiều nhất.