Vợ cho rằng giá đất có thể lên tới 4,5 tỷ, chồng và bên mua nói 600 triệu

Theo trình bày của bà P. (ngụ tỉnh Quảng Ninh), bà và ông V. từng là vợ chồng và cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 243m2 tại Quảng Ninh. Nguồn gốc thửa đất này do bố mẹ ông V. tặng cho, tuy nhiên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bố mẹ ông V. quản lý.

Giữa năm 2021, khi vẫn đang là vợ chồng, bà P. và ông V. ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông N. tại văn phòng công chứng. Hợp đồng ghi giá chuyển nhượng chỉ 50 triệu đồng. Sau đó, quyền sử dụng đất được đăng ký biến động sang tên vợ chồng ông N.

Đến năm 2022, bà P. và ông V. ly hôn. Sau khi ly hôn, bà P. cho rằng mình không được chia phần nào từ thửa đất nên khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, hủy đăng ký biến động và buộc vợ chồng ông N. trả lại đất.

W-Ha Long 2025_15.jpg
Thửa đất được ghi giá chuyển nhượng 50 triệu đồng, trong khi người chồng nói đã nhận 600 triệu đồng và người vợ cho rằng giá thực tế có thể lên tới 4,5 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Theo bà P., giá chuyển nhượng thực tế có thể lên tới 4,5 tỷ đồng, trong khi phía vợ chồng ông N. và ông V. cho rằng giá thực tế là 600 triệu đồng.

Bà P. cho rằng việc ghi giá 50 triệu đồng trong hợp đồng nhằm che giấu giao dịch thực tế và trốn thuế, đồng thời cho rằng việc chuyển nhượng được thực hiện theo sự sắp đặt của bố mẹ ông V.

Ở chiều ngược lại, vợ chồng ông N. cho rằng hai bên đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Trong đó, ông N. cho rằng đã thanh toán 600 triệu đồng cho ông V. và nhận giấy chứng nhận để thực hiện thủ tục sang tên. Ông V. cũng xác nhận đã nhận đủ 600 triệu đồng và cho rằng bà P. biết, đồng ý với việc chuyển nhượng.

Đáng chú ý, vợ chồng ông N. không cung cấp được giấy tờ chứng minh việc thanh toán 600 triệu đồng do cho rằng đã thất lạc.

Ghi giá đất thấp hơn thực tế chưa đủ căn cứ để xác định giao dịch giả tạo

Xét xử sơ thẩm, TAND TP Cẩm Phả (nay là TAND khu vực 3 - Quảng Ninh) không chấp nhận yêu cầu của bà P. về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, hủy đăng ký biến động và trả lại quyền sử dụng đất.

Không đồng ý với phán quyết trên, bà P. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, TAND tỉnh Quảng Ninh nhận định, tại thời điểm ký hợp đồng, bà P. và ông V. đều có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và cùng trực tiếp ký hợp đồng tại văn phòng công chứng.

Hồ sơ cũng thể hiện giao dịch sau đó đã được cơ quan đăng ký đất đai chứng nhận chuyển nhượng. Do đó, không có cơ sở cho rằng bà P. bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép khi xác lập giao dịch.

Đối với lập luận hợp đồng ghi giá 50 triệu đồng trong khi giá thực tế cao hơn, Tòa phúc thẩm nhận định việc giá ghi trong hợp đồng thấp hơn giá giao dịch thực tế không đương nhiên làm phát sinh giao dịch giả tạo theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.

Tòa cho rằng chưa có căn cứ xác định việc ghi giá thấp nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba; đồng thời. Tòa cũng nhận định cơ quan thuế có căn cứ xác định nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật, không chỉ dựa vào giá ghi trên hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng không bị coi là giao dịch giả tạo.

Tòa cũng bác lập luận cho rằng bên mua chưa thanh toán cho bà P. Theo hồ sơ, ông V. xác nhận đã nhận 600 triệu đồng từ bên mua. Tại thời điểm thanh toán, ông V. và bà P. vẫn là vợ chồng nên Tòa xác định việc thanh toán cho ông V. đã hoàn thành nghĩa vụ của bên mua đối với bên chuyển nhượng.

Đáng chú ý, Tòa xác định khoản 600 triệu đồng ông V. nhận trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của ông V. và bà P. Tuy nhiên, việc phân chia khoản tiền này giữa ông V. và bà P. không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án. Bà P. có quyền yêu cầu giải quyết chia tài sản chung sau ly hôn nếu có nhu cầu.

Từ những lập luận trên, TAND tỉnh Quảng Ninh không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(Tham khảo Bản án số 73/2023/DS-PT ngày 31/10/2023 của TAND tỉnh Quảng Ninh)