Đây là động thái tích cực sau khi các ngân hàng đồng thuận cam kết giảm cả lãi suất huy động và cho vay tại cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng thương mại chiều 9/4.

Tại Vietcombank, dù mới tăng lãi suất huy động, nhà băng này đã quyết định giảm trở lại từ ngày 13/4.

Theo đó, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất cao nhất (24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm.

Ngân hàng Bản Việt (BVBank) cũng nhập cuộc khi cắt giảm lãi suất kể từ hôm nay (11/4), mức giảm 0,3%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng, đồng thời giảm mạnh 0,5%/năm lãi suất kỳ hạn từ 15-36 tháng.

Với mức giảm này, lãi suất tiết kiệm trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ cập nhật tại BVBank như sau: Kỳ hạn 1-5 tháng là 4,75%/năm, kỳ hạn 6-11 tháng và 15-24 tháng là 6,7%/năm, kỳ hạn 12 tháng là 6,9%/năm.

Hình 3.jpg
Lãi suất huy động trực tuyến tại BVBank, áp dụng từ 11/4.

Tại Techcombank, lãi suất huy động giảm 0,1%/năm với kỳ hạn 3-5 tháng, đồng thời giảm mạnh 0,5%/năm các kỳ hạn 6-36 tháng.

Lãi suất tiền gửi trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ tại ngân hàng này là: Kỳ hạn 1-2 tháng 4,35%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng giảm còn 4,65%/năm, kỳ hạn 6-11 tháng còn 6,55%/năm, kỳ hạn 12 tháng còn 6,75%/năm, kỳ hạn 13-36 tháng còn 5,85%/năm.

Techcombank vẫn cộng thêm lãi suất lên tới 0,8%/năm cho khoản tiền gửi mở mới kỳ hạn 6 tháng vào thứ Hai hằng tuần.

Từ ngày 11/4, Sacombank niêm yết lãi suất mới với mức giảm 0,3%/năm các kỳ hạn 6-11 tháng, còn 6,5%/năm; đồng thời giảm 0,5%/năm lãi suất kỳ hạn 12-18 tháng còn 6,3%/năm đối với tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ. 

Mức lãi suất huy động cao nhất 7,2%/năm được ngân hàng niêm yết cho tiền gửi kỳ hạn 24-36 tháng, nay giảm về mức 7%/năm.

Ngân hàng Eximbank, vốn không thay đổi lãi suất kể từ tháng 7 năm ngoái, cũng vừa điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất các kỳ hạn 18-36 tháng.

Lãi suất huy động trực tuyến cao nhất tại đây chỉ còn 5,2%/năm nếu gửi từ thứ Hai đến thứ Sáu, 5,5%/năm nếu gửi trong hai ngày cuối tuần.

LPBank cũng giảm mạnh lãi suất các kỳ hạn từ 6-36 tháng với mức giảm từ 0,4-1%/năm. 

Cụ thể, khách hàng gửi tiền trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ, kỳ hạn 6-11 tháng nay còn 6,9%/năm, kỳ hạn 12-13 tháng là 7%/năm, kỳ hạn 15-18 tháng là 7,1%/năm, kỳ hạn 24-25 tháng là 7,2%/năm. Đáng chú ý, lãi suất ngân hàng kỳ hạn 36-60 tháng giảm 1%/năm, về 6,2%/năm.

Cũng từ ngày 11/4, Ngân hàng SHB giảm từ 0,2-0,3%/năm lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng, giảm 0,4%/năm kỳ hạn 15-36 tháng. 

Hiện lãi suất ngân hàng trực tuyến kỳ hạn 6-8 tháng tại SHB là 6,2%/năm, kỳ hạn 10-11 tháng là 6,4%/năm, kỳ hạn 12-13 tháng là 6,5%/năm, kỳ hạn 15-18 tháng là 6,6%/năm, kỳ hạn 24-36 tháng là 6,7%/năm.

Cũng từ ngày 11/4, TPBank giảm lãi suất huy động 0,1%/năm kỳ hạn 1-5 tháng, giảm 0,2%/năm kỳ hạn 6-36 tháng. Hiện lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết là 6,35%/năm, kỳ hạn 24-36 tháng.

Tại ABBank, lãi suất mới cũng sẽ được áp dụng từ ngày 11/4, giảm nhẹ 0,05%/năm cho kỳ hạn 6-13 tháng, đồng thời giảm mạnh 0,5%/năm cho kỳ hạn 15-60 tháng.

Hiện lãi suất tiết kiệm trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ được ABBank niêm yết như sau: Kỳ hạn 1-2 tháng là 3,8%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng là 4%/năm, kỳ hạn 6-13 tháng là 6,25%/năm và kỳ hạn 15-60 tháng là 5,8%/năm.

Lãi suất huy động tại KienlongBank, có hiệu lực từ 11/4, cũng giảm 0,2%/năm tại tất cả các kỳ hạn từ 1-60 tháng. 

Cụ thể, lãi suất huy động trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ được ngân hàng niêm yết như sau: Kỳ hạn 1-5 tháng là 4,2%/năm, kỳ hạn 6 và 12 tháng là 5,5%/năm, kỳ hạn 7-9 tháng là 5,2%/năm, kỳ hạn 10-11 tháng là 5,4%/năm, kỳ hạn 13-15 tháng là 5,35%/năm, kỳ hạn 17-60 tháng là 5,15%/năm.

Ngân hàng Bảo Việt (BaoViet Bank) cũng vừa cập nhật biểu lãi suất mới với mức giảm 0,3%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6-36 tháng. Hiện lãi suất ngân hàng kỳ hạn 6-11 tháng là 6,6%/năm, kỳ hạn 12-36 tháng là 6,7%/năm.

Nam A Bank cũng thông báo điều chỉnh lãi suất huy động từ ngày 11/4, mức giảm từ 0,1-0,2%/năm với các kỳ hạn từ 6-12 tháng, xuống còn 6,1-6,3%/năm. 

Hiện lãi suất huy động cao nhất tại Nam A Bank là 6,3%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 12-36 tháng. Tuy nhiên, mức giảm này chưa tương xứng so với việc nhà băng này vừa mới tăng lãi suất tới 0,7%/năm vào tuần trước.

Ngân hàng Quốc Dân (NCB) cũng có tên trong danh sách ngân hàng tiên phong giảm lãi suất khi vừa công bố giảm 0,1%/năm lãi suất tiết kiệm các kỳ hạn 6-60 tháng.

Cụ thể, lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 6-11 tháng tại NCB giảm còn 6,3%/năm, kỳ hạn 12-13 tháng là 6,5%/năm, kỳ hạn 15 tháng là 6,6%/năm, kỳ hạn 18 tháng là 6,7%/năm, kỳ hạn 24-60 tháng là 6,8%/năm.

Tại Viet A Bank, lãi suất huy động giảm mạnh 0,5%/năm các kỳ hạn 6-36 tháng. Theo đó, lãi suất ngân hàng trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ áp dụng cho kỳ hạn 6-11 tháng còn 6%/năm, kỳ hạn 12-13 tháng là 6,1%/năm, kỳ hạn 15-18 tháng là 6,2%/năm, kỳ hạn 24-36 tháng là 6,3%/năm.

Đáng chú ý, Ngân hàng số Cake by VPBank từng trả lãi suất lên tới 9,2%/năm cho các kỳ hạn từ 6 tháng sau khi cộng ưu đãi. Hiện dù vẫn duy trì mức cộng thêm 1,3%/năm, lãi suất cao nhất đã giảm còn 8,7%/năm.

Lãi suất theo niêm yết tại Cake là 7,2%/năm với kỳ hạn 6-9 tháng và 7,4%/năm kỳ hạn 10-24 tháng, giảm 0,5%/năm so với mức cũ.

Như vậy, chỉ trong hai ngày 10 và 11/4, có tới 17 ngân hàng công bố giảm lãi suất huy động. Việc các ngân hàng chủ động điều chỉnh giảm lãi suất ngay sau cuộc họp với NHNN thể hiện tinh thần quán triệt và triển khai kịp thời theo định hướng của Chính phủ và NHNN.

Các ngân hàng cho hay sẽ tiếp tục tối ưu chi phí vốn, hướng tới giảm lãi suất vay, hỗ trợ khách hàng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần ổn định thị trường tài chính - tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TRỰC TUYẾN TẠI CÁC NGÂN HÀNG NGÀY 11/4/2026 (%/NĂM)
NGÂN HÀNG 1 THÁNG 3 THÁNG 6 THÁNG 9 THÁNG 12 THÁNG 18 THÁNG
AGRIBANK 4,75 4,75 7 7 7 7
BIDV 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8
VIETINBANK 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8
VIETCOMBANK 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8
ABBANK 3,8 4 6,25 6,25 6,25 5,8
ACB 4,75 4,75 7,1 7,2 7,3
BAC A BANK 4,55 4,55 7,05 7,05 7,1 7,1
BAOVIETBANK 4,75 4,75 6,6 6,6 6,7 6,7
BVBANK 4,75 4,75 6,7 6,7 6,9 6,7
CAKE 4,75 4,75 7,2 7,2 7,4 7,4
EXIMBANK 4,6 4,7 5,4 5,4 5,3 5,3
GPBANK 3,9 4 5,55 5,65 5,85 5,85
HDBANK 4,2 4,3 5,5 5,3 5,8 6,1
KIENLONGBANK 4,2 4,2 5,5 5,2 5,5 5,15
LPBANK 4,7 4,75 6,9 6,9 7 7,1
MB 4,5 4,7 5,9 5,9 6,55 6,55
MBV 4,6 4,75 7,2 7,2 7,5 7,5
MSB 4,75 4,75 6,4 6,4 6,8 6,8
NAM A BANK 4,6 4,75 6,1 6,2 6,3 6,3
NCB 4,7 4,75 6,3 6,3 6,5 6,7
OCB 4,75 4,75 6,7 6,7 7 7,2
PGBANK 4,75 4,75 7,1 7,1 7,2 6,8
PVCOMBANK 4,75 4,75 5,8 5,8 6,1 6,8
SACOMBANK 4,75 4,75 6,5 6,5 6,3 6,3
SAIGONBANK 4,75 4,75 6,5 6,5 6,8 7
SCB 1,6 1,9 2,9 2,9 3,7 3,9
SEABANK 3,95 4,45 5,15 5,35 5,5 5,95
SHB 4,6 4,65 6,2 6,4 6,5 6,6
TECHCOMBANK 4,35 4,65 6,55 6,55 6,75 5,85
TPBANK 4,65 4,65 6,05 6,05 6,25 6,25
VCBNEO 4,45 4,45 7 7 7 7
VIB 4,75 4,75 5,7 5,8 7 5,9
VIET A BANK 4,7 4,75 6 6 6,1 6,2
VIETBANK 4,6 4,6 6,1 6,2 6,3 6,6
VIKKI BANK 4,7 4,7 6,5 6,5 6,6 6,6
VPBANK 4,75 4,75 6,1 6,1 6,3 6,3