Lãi suất huy động cao nhất trong 5 năm
Vài tháng nay, các ngân hàng liên tục tăng lãi suất huy động. Bước sang tháng 4, đà tăng chưa dừng lại khi có có tới 7 ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi gồm: Viet A Bank, Nam A Bank, BaoViet Bank, ACB, VietinBank, Techcombank, VIB.
Trong đó, lãi suất huy động thực tế tại Ngân hàng số Vikki Bank (Vikki Bank) đã cán mốc 9,3%/năm.
Trước đó, vào cuối tháng 3/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ra văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) và NHNN chi nhánh tại các khu vực tập trung triển khai một số nhiệm vụ ổn định mặt bằng suất.
Theo PGS-TS. Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), việc mặt bằng lãi suất lên mức cao nhất trong hơn 5 năm, cùng với việc Ngân hàng Nhà nước phải ra công văn yêu cầu các tổ chức tín dụng ổn định lãi suất, cho thấy hệ thống đang bước vào một trạng thái cân bằng mới, khá nhạy cảm.
"Một bên là áp lực về thanh khoản, tỷ giá, lạm phát; bên kia là mục tiêu tăng trưởng và sức chịu đựng của doanh nghiệp, người vay vốn. Từ góc độ chính sách, nhiều khả năng lãi suất đã ở vùng đỉnh của chu kỳ, thay vì còn dư địa tăng mạnh trong thời gian tới", ông Phương nhận định.
Mức lãi suất huy động - cho vay hiện nay đã tạo áp lực rõ rệt lên doanh nghiệp và hộ gia đình, thể hiện ở việc chi phí tài chính tăng nhanh, nhiều doanh nghiệp bắt đầu thu hẹp đầu tư hoặc chỉ duy trì sản xuất cầm chừng.
Chính vì vậy, NHNN buộc phải phát tín hiệu yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, tránh tình trạng các ngân hàng thương mại tiếp tục tăng lãi suất huy động và lãi suất cho vay để chạy theo thanh khoản.
“Điều này cho thấy cơ quan điều hành nhận thấy dư địa tăng thêm của lãi suất là rất hạn chế nếu không muốn tác động tiêu cực tới tăng trưởng, nợ xấu và an toàn hệ thống. Nói cách khác, lãi suất có thể vẫn cao trong một thời gian, nhưng khả năng tăng mạnh thêm, đồng loạt trên toàn hệ thống, không phải là kịch bản chính”, PGS-TS. Nguyễn Văn Phương nói.

Cũng theo PGS-TS. Nguyễn Văn Phương, khả năng giảm lãi suất trong thời gian tới sẽ phụ thuộc chủ yếu vào ba biến số: lạm phát, tỷ giá và diễn biến tín dụng - tăng trưởng.
Nếu lạm phát tiếp tục bị đẩy lên bởi giá xăng dầu, giá dịch vụ công, giá lương thực…, NHNN rất khó nới lỏng chính sách tiền tệ vì phải giữ ổn định sức mua của đồng tiền.
Nếu tỷ giá còn nhiều áp lực do đồng USD mạnh, dòng vốn quốc tế biến động, cán cân thương mại không thuận lợi, thì việc giữ lãi suất VND ở mức tương đối cao là cách để giảm áp lực lên tỷ giá và dòng vốn.
Ngược lại, nếu lạm phát được kiểm soát quanh mục tiêu, tỷ giá ổn định hơn, trong khi tín dụng tăng chậm, tăng trưởng không đạt kỳ vọng, sức ép phải điều chỉnh giảm dần lãi suất để hỗ trợ kinh tế sẽ tăng lên. Khi đó, khả năng xuất hiện các đợt giảm lãi suất nhỏ, từng bước, từ cuối năm nay hoặc năm sau là có cơ sở hơn.
Kịch bản nào cho thị trường lãi suất?
TS. Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Chương trình đào tạo Kinh doanh thương mại, Đại học Phenikaa nhận định, trong ngắn hạn lãi suất huy động có xu hướng giữ ở mức hiện tại lâu hơn, trong khi lãi suất cho vay có thể được điều chỉnh theo hướng linh hoạt theo đối tượng.
“Đối với ngân hàng, huy động vốn là điều kiện sống còn. Khi thanh khoản chưa dồi dào, họ khó có thể giảm mạnh lãi suất tiền gửi vì sẽ mất nguồn vốn vào các kênh khác như vàng, ngoại tệ hoặc các ngân hàng trả lãi cao hơn”, TS. Nguyễn Văn Lộc nói.
Ông Lộc cho rằng chỉ đạo của NHNN thực tế là để chặn cuộc đua tăng thêm, chứ không đủ để tạo điều kiện giảm ngay lãi suất huy động. Trong khi đó, với lãi suất cho vay, các ngân hàng sẽ chịu sức ép cả từ phía NHNN lẫn từ thị trường, buộc phải chia sẻ bớt biên lợi nhuận với khách hàng tốt để giữ quan hệ và hạn chế nợ xấu.
TS. Lộc cho rằng, lãi suất cho vay thực tế có thể phân hóa rõ hơn. Doanh nghiệp có tài chính lành mạnh, lịch sử tín dụng tốt và thuộc ngành ưu tiên có thể được giảm nhẹ lãi suất hoặc hưởng thêm ưu đãi phí; trong khi nhóm rủi ro cao vẫn khó giảm, thậm chí duy trì ở mức cao.
Sự chênh lệch giữa các ngân hàng cũng sẽ rõ nét hơn. Ngân hàng lớn, có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao và chi phí vốn thấp, có thể giữ lãi suất huy động ở mức hợp lý và linh hoạt điều chỉnh lãi suất cho vay.
Ngược lại, ngân hàng nhỏ, phụ thuộc nhiều vào vốn kỳ hạn dài và thị trường liên ngân hàng, sẽ khó giảm lãi suất sớm, thậm chí phải tăng khuyến mại để giữ khách.
Với khách hàng, nhóm có rủi ro thấp sẽ tiếp cận lãi suất tốt hơn đáng kể so với nhóm có lịch sử tín dụng yếu. Vì vậy, mặt bằng lãi suất thực tế sẽ đa dạng hơn nhiều so với mức niêm yết.
Theo PGS-TS. Nguyễn Văn Phương, trọng tâm chính sách không chỉ là xử lý lãi suất danh nghĩa mà là giảm tổng chi phí vốn và rủi ro cho nền kinh tế. Trong bối cảnh khó hạ mạnh lãi suất do áp lực lạm phát và tỷ giá, Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách cắt giảm các chi phí khác như thủ tục hành chính, chậm trễ phê duyệt dự án, cũng như chi phí tuân thủ về thuế, hải quan và đất đai.
“Mỗi bước đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, minh bạch hóa quy trình, là một bước giảm chi phí vốn thực tế cho doanh nghiệp, có tác dụng gần như việc hạ một phần lãi suất cho vay. Đây là biên độ chính sách còn khá lớn mà không gây sức ép lên lạm phát hay tỷ giá”, PGS-TS. Nguyễn Văn Phương nói.
PGS-TS. Nguyễn Văn Phương khuyến nghị doanh nghiệp và người vay cần chuẩn bị tâm thế khi mặt bằng lãi suất thấp như giai đoạn Covid-19 khó quay lại. Thay vào đó, cần tập trung cải thiện quản trị tài chính, cơ cấu lại nợ, tăng vốn tự có và nâng hiệu quả sử dụng vốn để thích ứng với môi trường lãi suất cao hơn.