Đó là thông điệp được nhấn mạnh tại Tọa đàm “Giải pháp thúc đẩy đưa nông sản, sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử” do Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh tổ chức sáng 11/6. Chương trình tạo diễn đàn đối thoại giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ và các nông dân, chủ thể OCOP nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình chuyển đổi từ phương thức kinh doanh truyền thống sang môi trường số.

Tăng khả năng tiếp cận thông tin thị trường cho nông dân

Đại diện Trung tâm Khuyến nông tỉnh cho biết, thương mại điện tử đang trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế số. Tuy nhiên, để người dân thực sự hưởng lợi, điều quan trọng không chỉ là có sản phẩm mà còn phải được trang bị kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận thông tin về thị trường, công nghệ cũng như các nền tảng kinh doanh trực tuyến.

W-595819060_1175349814680930_9132158672834460494_n.jpg
 Bán hàng trực tuyến không chỉ dừng ở kỹ năng livestream hay chốt đơn, mà cần xây dựng chuỗi giá trị minh bạch từ sản xuất đến tiêu thụ.

Hiện Bắc Ninh có 721 sản phẩm OCOP được công nhận, gồm 1 sản phẩm 5 sao, 57 sản phẩm 4 sao và 663 sản phẩm 3 sao. Đáng chú ý, 100% cơ sở sản xuất OCOP đã có tài khoản giao dịch điện tử tại ngân hàng, song mới chỉ khoảng 20% chủ thể sở hữu website giới thiệu sản phẩm.

Khoảng cách này cho thấy nhiều hộ sản xuất và hợp tác xã vẫn gặp không ít rào cản về kỹ năng số, logistics, bảo quản hàng hóa, chi phí vận hành gian hàng trực tuyến cũng như sức ép cạnh tranh từ nông sản nhập khẩu. Đây cũng là biểu hiện của "nghèo thông tin" trong quá trình chuyển đổi số khi người sản xuất chưa tiếp cận đầy đủ công cụ, kiến thức và cơ hội kinh doanh trên môi trường mạng.

Tại tọa đàm, các tham luận của Trung tâm Khoa học công nghệ và chuyển đổi số (Sở Khoa học và Công nghệ) cùng đại diện Sàn thương mại điện tử Chợ Bắc Ninh đều thống nhất rằng niềm tin của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự thành công của sản phẩm trên môi trường số.

Theo đó, việc bán hàng trực tuyến không chỉ dừng ở kỹ năng livestream hay chốt đơn, mà cần xây dựng chuỗi giá trị minh bạch từ sản xuất đến tiêu thụ. Ứng dụng công nghệ như hệ thống tưới tự động, nhật ký điện tử, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc bằng mã QR được xem là "hộ chiếu số" giúp nông sản và sản phẩm OCOP tạo dựng uy tín, nâng cao khả năng cạnh tranh trên các sàn thương mại điện tử.

Phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số cho nông dân

Phần thảo luận diễn ra sôi nổi với sự tham gia của Ban cố vấn, các chuyên gia và 40 nông dân tiêu biểu đến từ các địa phương như Đa Mai, Hiệp Hòa, Phúc Hòa, Ngọc Thiện... Nhiều câu hỏi tập trung vào các vấn đề thiết thực như hỗ trợ chi phí vận chuyển, bảo mật tài khoản giao dịch và giải pháp ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái mạo danh sản phẩm OCOP trên mạng xã hội.

Theo các đại biểu, việc phổ cập kỹ năng số, tăng cường cung cấp thông tin chính thống và kết nối trực tiếp với các nền tảng thương mại điện tử sẽ giúp nông dân, hợp tác xã, nhất là các nhóm yếu thế, người dân ở khu vực còn khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số có thêm cơ hội tiếp cận thị trường, nâng cao thu nhập và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 có trên 70% doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng thương mại điện tử và doanh số bán lẻ trực tuyến chiếm 20% tổng mức bán lẻ của tỉnh, Bắc Ninh đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến dành khoảng 6,4 tỷ đồng để phát triển thương mại điện tử; đồng thời đẩy mạnh tập huấn kỹ năng số, hướng dẫn livestream, hỗ trợ đăng ký tên miền quốc gia ".vn" và kết nối trực tiếp người sản xuất với các sàn thương mại điện tử uy tín.

Những giải pháp này không chỉ mở rộng đầu ra cho nông sản và sản phẩm OCOP mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách số, giảm nghèo thông tin, tạo sinh kế bền vững và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số của ngành nông nghiệp.

Được biết, sau khi sáp nhập với tỉnh Bắc Giang (từ 1/7/2025), tỉnh Bắc Ninh mới có tổng dân số là 3.619.433 người. Cộng đồng người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh có khoảng 300.000 - 390.000 người (chiếm khoảng 8,3% đến 11% dân số) với 45 thành phần dân tộc cùng chung sống, chủ yếu là người Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Sán Chí và Dao.