
>> Thế cân bằng an ninh tại châu Á
Giống như nhiều quốc gia hùng mạnh khác, và đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc có một truyền thống bành chướng lãnh thổ lâu dài, họ đã đánh bại hoặc ép buộc người dân và các quốc gia láng giềng. Dù khác về bản chất so với chủ nghĩa đô hộ của châu Âu, nhưng mục đích của hệ thống chư hầu của Trung Quốc là sự áp đặt một Trung Quốc bá chủ đối với nhân dân và xã hội láng giềng, một đặc điểm vẫn còn tồn tại tới ngày nay đối với các nước châu Á.
Trong khi Bắc Kinh xem việc tái thống nhất đảo Đài Loan và bình định Tây Tạng là việc lập lại quyền của Trung Quốc đối với các mảnh đất của tổ tiên đã mất vào tay những người nước ngoài phản bội, thì hoàn toàn có thể đưa ra một kết luận khác: các chính sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan và Tây Tạng cho thấy cách hành xử tương tự của Trung Quốc đối với cả khu vực rộng lớn hơn. Chắc chắn, chính sách phục thù của Trung Quốc không giúp xây dựng niềm tin rằng một Nền hòa bình kiểu Trung Quốc (Pax Sinica) có thể tỏ ra là công bằng hơn, ổn định và hòa bình hơn Pax Americana.
Nhưng nếu Pax Sinica hụt hơi và Pax Americana không thể kéo dài dạng thức hiện nay của nó, thì kiểu trật tự mới nào sẽ nổi lên tại Đông Á có thể giúp duy trì hòa bình và thể hiện được nguyện vọng của tất cả các nước trong khu vực?
![]() |
Một khả năng là "Bản đồng ca châu Á". Lấy cảm hứng từ thỏa thuận quyền lực hậu Napoleon, điều hành châu Âu trong đa phần thế kỷ 19, những người ủng hộ một Bản hòa đồng ca châu Á cho rằng nếu thiếu một quốc gia có thể đứng đầu, một phiên bản châu Á đương đại của sự phối hợp châu Âu có thể duy trì tốt hòa bình và ổn định trong khu vực. Tuy nhiên để trở nên đáng tin cậy và được đảm bảo, chỉ các nước mạnh nhất mới có quyền giành một ghế quanh chiếc bàn tròn. Năm ứng cử viên dễ thấy là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Indonesia.
Một vấn đề rõ ràng với mô hình này là liệu các nước nhỏ hơn ở Đông Á có sẵn sàng nhất trí gắn lợi ích cá nhân hoặc tập thể của mình với các nước lớn hay không. Điều này đi ngược lại cuộc công kích chủ nghĩa khu vực Đông Á trong hai thập kỷ qua, khi mà các nước nhỏ hơn nhấn mạnh đến quyền của mình và cách xử lý tập thể đối với các vấn đề an ninh khu vực.
Việc này cũng chưa tính đến sự phân bố quyền lực toàn cầu đi kèm với cái mà Fareed Zakaria gọi là "sự nổi lên của phần còn lại". Các nước tầm trung đòi một tiếng nói lớn hơn trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và sẽ không chấp nhận sự trở lại của bất kỳ cường quốc bá chủ nào trước đây.
Cũng rất khó để thấy các nước lớn đạt nhất trí về một vai trò quản lý của mô hình Bản đồng ca châu Á. Nhật Bản quá yếu; Trung Quốc thì không sẵn sàng, và các giá trị chính trị của họ quá khác; Ấn Độ thì chỉ quan tâm đến các vấn đề của mình; còn các tham vọng địa chính trị của Indonesia lại gắn với Đông Nam Á; Mỹ chẳng có nguồn lực để đóng một vai trò lãnh đạo nổi bật tại châu Á.
Còn về ý kiến cho rằng Mỹ nên chấp nhận sự tất yếu và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc như một nước bình đẳng? Song song với G-2 sẽ là một châu Á -2, cho phép Bắc Kinh và Washington chia sẻ khu vực thành các vòng ảnh hưởng giống như Mỹ và Liên Xô từng quản lý một nửa châu Âu trong thời đầu chiến tranh Lạnh.
Dù trông bề ngoài có vẻ hấp dẫn vì cho thấy triển vọng một sự chuyển tiếp hào bình sang một trật tự quốc tế mới, nhưng cách chia sẻ quyền lực này giữa Mỹ và Trung Quốc ít khả năng xảy ra vì hai lý do. Một là không có chính quyền nào ở Mỹ, vì tính phức tạp chính trị của họ, lại sẵn lòng chia miếng bánh quyền lực với Trung Quốc, và Trung Quốc cũng vậy. Thứ hai, quy chế nước lớn mới của Trung Quốc khó mà bị cản trở. Nó cũng không được đảm bảo là sẽ kéo dài, vì đất nước này đang phải đối mặt với các thách thức lớn về môi trường, tài nguyên, kinh tế và dân số, chưa kể tới một đối thủ là Mỹ đang không có dấu hiệu nào rơi vào suy yếu bất chấp tình hình kinh tế khó khăn hiện nay của họ. Sớm hơn họ nghĩ, Bắc Kinh có thể phải đương đầu với nguy cơ một Washington trỗi dậy quyết tâm giành lại các lợi ích chiến lược của mình.
Như vậy, câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào Trung Quốc và Mỹ có thể đảm bảo rằng cuộc cạnh tranh lành mạnh sẽ không dẫn tới một sự dửng dưng làm nghiêm trọng thêm sự bấp bênh vốn có và dẫn tới xung đột nghiêm trọng? Có thể Bắc Kinh sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể, duy trì chiến lược chính trị và quân sự hiện nay của mình tại Tây Thái Bình Dương.
Giống như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc tự cho mình quyền hiện đại hóa lực lượng vũ trang và bảo vệ các lợi ích an ninh chính đáng của mình. Nhưng thái độ xác quyết của Bắc Kinh trong yêu sách lãnh thổ tại biển Đông lại phản tác dụng - làm các nước láng giềng xa lánh, khiến quốc tế lo ngại về các tham vọng chiến lược của Trung Quốc và gây ra các hành động bao vây trong khu vực. Thách thức của Trung Quốc đối với sức mạnh biển của Mỹ tại Đông Á đánh vào niềm tin từ lâu của Mỹ rằng vai trò ưu việt về hải quân tại Thái Bình Dương không chỉ quan trọng đối với an ninh của Mỹ mà cả đối với vị trí cường quốc bá chủ toàn cầu của họ.
Vấn đề ở đây là các phát biểu chính thức - thường gay gắt và không thỏa hiệp - của Bắc Kinh khi nói về các vấn đề nhạy cảm chính trị hay chủ quyền, cũng như việc chính phủ sẵn sàng chấp nhận, thậm chí đôi khi còn thúc đẩy, tình cảm dân tộc trong nước, càng làm nghiêm trọng và phức tạp thêm các cuộc tranh chấp với Mỹ và Nhật Bản. Một Trung Quốc ngày càng đa nguyên và kết nối toàn cầu đồng nghĩa với việc chính sách đối ngoại không còn là khu vực cấm của riêng Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị và nhóm nhỏ các quan chức về chính sách tại Bộ Ngoại giao và Chính phủ ủng hộ chính sách đó. Chủ nghĩa dân tộc thể hiện trên các chat rooms (diễn đàn trao đổi trên mạng internet), các trang blog và các trang mạng internet đang khiến việc quản lý các quan hệ Trung - Mỹ và Trung - Nhật trở nên phức tạp và khó lường hơn.
Trong khi đó, thách thức của Mỹ là phát triển một chiến lược gắn kết hơn về Trung Quốc, theo đó công khai thừa nhận các lo ngại về tài nguyên của Tủng Quốc, từ đó có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ các hải trình qua Tây Thái Bình Dương. Điều còn thiếu trong nhiều cách giải thích của phương Tây về cách hành xử xác quyết hơn của Trung Quốc gần đây là sự thừa nhận tầm quan trọng kinh tế mà Bắc Kinh gắn với vùng biển mang tính sống còn này, được coi là một ống dẫn chính tới thương mại thế giới và một kho khoáng sản giàu có và nguồn hải sản phong phú. Đến năm 2030, có tới 80% nhu cầu dầu và 50% nhu cầu khí đốt của Trung Quốc sẽ phải nhập bằng đường biển, thông qua eo biển Malacca - nơi được coi là một nút thắt cổ chai trên biển từ xưa vì nó hẹp và cạn, hạn chế số lượng tàu bè qua lại hàng ngày, và vì nó dễ bị áp đặt lệnh cấm hoặc phong tỏa môi trường.
Tỷ lệ gia tăng nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc hiếm thấy, nếu không muốn nói là chưa từng thấy trong lịch sử. Trong chưa đầy 20 năm, nước này đã chuyển từ một nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu hơn 55% nhu cầu về dầu mỏ trong nước, với việc nhập khẩu dầu thô tăng tới tận 17,5% riêng trong năm 2010.
Tính dễ bị tổn thương về tài nguyên này tác động rất mạnh tới suy nghĩ của các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc, những người bên cạnh việc lo ngại chủ nghĩa khủng bố, hải tặc và tình trạng xâu xé nguồn cung năng lượng của họ, đã ý thức rõ rằng đối thủ cạnh tranh chính của họ đang thể hiện quyền kiểm soát hải quân tại Eo biển Malacca và hầu hết vùng Tây Thái Bình Dương.
Nêu ra thế tiến thoái lưỡng nan tại Malacca như trên, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ các lo ngại này vào năm 2005, và các quan chức dưới quyền ông đã nói rõ rằng Trung Quốc không còn muốn giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho các hải trình ở Tây Thái Bình Dương vào tay Hải quân Mỹ nữa. Như vậy, dù Mỹ và Nhật Bản có thích hay không, lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ tiến xa hơn ra Tây Thái Bình Dương, đến tận miền Nam Eo biển Malacca. Đây là một hậu quả của sức nặng kinh tế và chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc, giống như sự nổi lên của Hải quân Mỹ đã báo trước sự nổi lên của Mỹ là một cường quốc lớn từ cuối thế kỷ 20.
Một điểm nguy hiểm khác nằm ở các mâu thuẫn trong cách hành xử và cách tiếp cận của Mỹ với Trung Quốc. Trong hai thập kỷ qua, chính sách Trung Quốc của Mỹ đã là một hỗn hợp giữa cam kết, đối tác, cạnh tranh, bao vây và lên lớp về cấu trúc chính trị bên trong Trung Quốc. Khi sự oán giận và thù địch đối với một Bắc Kinh đang nổi lên, chính quyền Mỹ đối mặt với thách thức đảm bảo rằng Trung Quốc không trở thành một kẻ bung xung cho sự lơ là chính sách đối nội của Mỹ hoặc thay thế Liên Xô làm "mẹ mìn" chiến lược mới. Mọi âm mưu biến Trung Quốc thành quỷ sẽ phản tác dụng đối với lợi ích chiến lược của Mỹ tại Đông Á. Nó có thể làm giảm bớt sự ôn hòa của giới lãnh đạo Trung Quốc và khuyến khích một cách trả đũa có thể làm nghiêm trọng thêm các căng thẳng sẵn có.
Mỹ và Trung Quốc quản lý quan hệ của mình như thế nào sẽ có ảnh hưởng chiến lược đối với toàn khu vực Đông Á. Khi cạnh tranh gia tăng, việc ngăn chặn các cuộc xung đột leo thang sẽ không hề dễ. Điều này không phải là tất yếu vì Bắc Kinh tìm cách bành chướng lãnh thổ, trở thành một cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, hay có bất đồng sâu sắc với Washington về các giá trị. Có lẽ, nó có thể được quản lý. Mối nguy hiểm thực sự là tính dễ tổn thương về năng lượng của Trung Quốc, cảm giác mình được quyền làm và quyết tâm lập lại vị thế bá chủ từng có trong lịch sử tại Đông Á sẽ làm sâu sắc thêm những lo ngại trong khu vực về cách hành xử của Trung Quốc và gây ra phản ứng đáp trả của Mỹ và Nhật.
Điều này có thể đặt ra một cách hiểu đương đại về thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh cổ điển từ nửa thế kỷ trước của nhà lý luận nổi tiếng của Mỹ về quan hệ quốc tế Kenneth Waltz: trong khi tìm cách tăng cường an ninh của mình bằng cách xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh, các nước lớn thường làm gia tăng sự bất ổn của nước khác vì sức mạnh quân sự này thường bị xem là một nguy cơ tiềm ẩn hơn là một biện pháp hợp lý và mang tính phòng vệ.
Cũng vậy, ý định của Trung Quốc nhằm thử phản ứng của Washington tại Tây Thái Bình Dương đã dẫn tới phản ứng gay gắt có thể dự đoán của Mỹ. Hải quân và Không quân Mỹ đang nghiên cứu các kế hoạch nhằm ngăn chặn và phá hủy các năng lực tên lửa lớn của Trung Quốc bằng một chiến lược "chiến tranh không-biển" mới, chiến lược thu hút nhiều sự chú ý trong giới chính trị ở Washington. Điều này không hẳn sẽ biến thành một cuộc chạy đua vũ trang tổng lực, thể hiện bởi sự lo ngại của các nước khác trước sức mạnh quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc. Tránh kết cục tồi tệ nhất sẽ đòi hỏi một cam kết lâu dài, bền vững nhằm xây dựng lòng tin và ngoại giao đề phòng, cũng như xây dựng một hệ thống quản lý nguy cơ hiệu quả có thể tránh các tranh chấp và sự cố cục bộ leo thang thành các cuộc xung đột lớn trên toàn khu vực.
Tóm lại, sự tan rã của Trật tự cũ tại Đông Á đã tạo ra một thế cân bằng quyền lực mỏng manh, gây ra bất ổn bởi những tham vọng khu vực (có thể hiểu được) của Trung Quốc, và sự quyết tâm có thể hiểu được của Mỹ trong việc bảo vệ vị thế bá chủ khu vực vốn có của mình nhiều nhất có thể. Liệu hai cường quốc này có thể quản lý thành công sự chuyển giao mong manh này và từ đó ổn định thế cân bằng quyền lực trong khu vực hay không vẫn là một câu hỏi trọng tâm mà châu Á - và cả thế giới - đang phải đối mặt trong thời đại của những biến động toàn cầu này./.
Châu Giang theo nationalinterest.org
- Thông tin tác giả: Alan Dupont, giáo sư về an ninh quốc tế, Giám đốc Viện An ninh Quốc tế và Phát triển tại Đại học New South Wales ở Sydney, Australia.
