
Tranh chấp từ quyết định sa thải sau sự cố giám định lô gạo
Ông H. làm việc tại công ty TNHH Giám định V từ năm 1997, ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2013. Ông giữ vai trò kỹ thuật viên, phụ trách nhóm giám sát mạn tàu, đóng container tại khu vực TPHCM và chịu sự quản lý, điều hành của Giám đốc Ban 1 là ông Nguyễn Trọng N.
Vụ việc phát sinh trong quá trình giám định lô hàng 12.500 tấn gạo của khách hàng xuất khẩu sang Indonesia vào tháng 6/2023. Sau khi lô hàng được giao, phía đối tác phát hiện gạo kém chất lượng. Công ty đã cử ông N. sang Indonesia xử lý và yêu cầu các cá nhân liên quan, trong đó có ông H., làm tường trình.
Ngày 30/11/2023, công ty ban hành quyết định kỷ luật sa thải ông H. với lý do “gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động”, căn cứ nội quy lao động.

Không đồng ý, ông H. khiếu nại và sau đó khởi kiện, yêu cầu tòa án hủy quyết định xử lý kỷ luật sa thải, đồng thời yêu cầu thanh toán tiền lương, phụ cấp và trợ cấp với tổng số tiền tạm tính là 238 triệu đồng.
Tòa xác định thiệt hại đủ căn cứ để sa thải
Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng việc sa thải không có căn cứ, bởi công ty không chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của ông và thiệt hại thực tế. Ông cũng cho rằng trách nhiệm thuộc về tập thể, không thể quy toàn bộ lỗi cho cá nhân.
Trong khi đó, phía công ty khẳng định việc xử lý kỷ luật là đúng quy định. Theo hồ sơ, ông H. là người phân công nhân sự giám sát tàu Hồng Lĩnh I, trong đó giao cho một giám định viên tập sự, người có ít kinh nghiệm phụ trách chính trong nhiều ngày mà không có giám sát đầy đủ.
Kết quả điều tra nội bộ và tài liệu trong hồ sơ thể hiện giám định viên này đã không thực hiện đúng quy trình lấy mẫu, dẫn đến việc không phát hiện gạo kém chất lượng.
Tòa án nhận định, với vai trò trưởng nhóm, ông H. có trách nhiệm phân công, kiểm tra, giám sát công việc. Việc giao nhiệm vụ cho nhân sự chưa đủ năng lực và thiếu giám sát thể hiện sự thiếu trách nhiệm, là nguyên nhân dẫn đến hậu quả.
Về thiệt hại, công ty xác định đã phát sinh chi phí hơn 1,9 tỷ đồng để xử lý vụ việc, chưa kể tổn thất về uy tín và mất khách hàng. Tòa cho rằng mức thiệt hại này vượt xa ngưỡng “thiệt hại nghiêm trọng” theo nội quy lao động (từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên), đủ căn cứ áp dụng hình thức sa thải.
Đối với lập luận của nguyên đơn rằng hàng kém chất lượng có nguồn từ kho trước đó, tòa nhận định đây không phải căn cứ loại trừ trách nhiệm. Bởi nếu thực hiện đúng quy trình giám định, sai sót có thể đã được phát hiện và hạn chế thiệt hại.
Tòa cũng xác định trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật của công ty là đúng quy định pháp luật, bao gồm cả việc ủy quyền cho Phó Tổng giám đốc làm Chủ tịch Hội đồng kỷ luật.
Từ đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm kết luận không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Theo phán quyết, tòa không chấp nhận các yêu cầu của ông H., bao gồm: hủy quyết định sa thải; thanh toán tiền lương trong thời gian không làm việc; trả phụ cấp và trợ cấp thôi việc.
Đối với yêu cầu về phụ cấp độc hại, tòa cho rằng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh và yêu cầu này cũng không còn đủ điều kiện khởi kiện.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn được miễn án phí lao động theo quy định.
