
GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD-ĐT) cho biết, đây là điều chỉnh cấp thiết nhằm bảo đảm mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành được đánh giá theo cùng yêu cầu đầu vào, trên cùng thang đo; để việc tuyển sinh minh bạch, đơn giản và thực chất hơn.
Nói về lý do cần rà soát việc sử dụng chứng chỉ và điểm cộng, ông Thảo cho hay một ngành, chương trình đào tạo phải có tiêu chí tuyển sinh thống nhất và điểm đầu vào giữa các phương thức phải tương đương.
“Từ năm 2023, Bộ đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng tối đa 10% tổng điểm xét tuyển. Tuy nhiên, khi mỗi trường tự quy đổi và xác định điểm cộng, sự khác biệt vẫn lớn. Vì vậy, đề xuất bỏ điểm cộng không phải thay đổi đột ngột về định hướng, mà là bước tiếp theo của lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa”, ông Thảo nói.
Đại diện Bộ GD-ĐT cho hay, dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS. Mức IELTS 6.0 là phổ biến nhất với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy đổi thành 26 mức điểm cộng khác nhau.
Ở nhóm 5% ngành có điểm chuẩn cao nhất, với ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng; tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%. Trong 3 phương thức không xét riêng ngoại ngữ gồm điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng dù điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.
“Các con số này không xác định được từng cặp thí sinh bị thay thế, nhưng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh", ông Thảo nói.

Theo ông Thảo, công bằng trong tuyển sinh không phải là chia đều lợi thế, mà là bảo đảm thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá bằng cùng tiêu chí. Có 2 cách thức đang gây mất công bằng trong tuyển sinh và cần được tháo gỡ ngay. Thứ nhất, ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, một thí sinh có kết quả 3 môn cao hơn vẫn có thể trượt, trong khi thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn lại được cộng điểm từ chứng chỉ. Quyền sử dụng chứng chỉ của một người không thể làm mất quyền được đánh giá công bằng của người còn lại.
Thứ hai, tổ hợp đã có môn Tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo. Một năng lực được tính 2 lần sẽ làm sai lệch thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định trúng tuyển hay không.
Ông Thảo dẫn chứng, nhiều ngành hiện có điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm, khiến hàng nghìn thí sinh đạt 26,5-28 điểm vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi chứng chỉ có chi phí cao. “Đây là vấn đề cấp bách liên quan trực tiếp đến công bằng và cần được điều chỉnh ngay. Tự chủ tuyển sinh phải đi cùng trách nhiệm giải trình và không thể hợp thức hóa một tiêu chí làm sai lệch cạnh tranh giữa các thí sinh”, ông Thảo nói.
Đại diện Bộ GD-ĐT chia sẻ với tâm lý của phụ huynh, học sinh đã đầu tư nghiêm túc cho việc học ngoại ngữ. Quyền sử dụng chứng chỉ để chứng minh năng lực ngoại ngữ vẫn được bảo đảm; giá trị của việc học tiếng Anh cũng không vì vậy mà giảm đi. Việc học tiếng Anh vẫn cần thiết cho quá trình học đại học và nghề nghiệp sau này, nên không thể xem là lãng phí.
“Không nên đồng nhất ‘không được cộng điểm’ với ‘học ngoại ngữ không còn giá trị’. Nếu chứng chỉ chủ yếu được theo đuổi để lấy lợi thế điểm số, việc học dễ chuyển từ phát triển năng lực giao tiếp, học tập và làm việc sang luyện thi để đạt một mốc điểm. Chính sách cần đưa động lực học ngoại ngữ trở lại đúng mục tiêu: học thật, sử dụng được và tạo lợi thế lâu dài cho người học", ông nói.
Ông cho biết, việc chỉnh sửa dự thảo thông tư tuyển sinh lần này dựa trên nguyên tắc: năng lực nào cần cho ngành học thì phải được đánh giá trực tiếp, minh bạch và bình đẳng; năng lực nào không thuộc yêu cầu đầu vào thì không nên trở thành điểm cộng làm thay đổi thứ tự thí sinh.
“Tuyển sinh đại học là quá trình lựa chọn đúng người học cho đúng ngành học trên cơ sở năng lực thực chất. Dự thảo không bỏ chứng chỉ ngoại ngữ mà sử dụng chứng chỉ đúng bản chất; không hạ thấp thành tích học sinh giỏi mà ghi nhận đúng cơ chế. Việc này không thu hẹp cơ hội, mà đưa các thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành về một thước đo công bằng, minh bạch và có thể kiểm chứng. Loại bỏ những điểm cộng không phù hợp là việc cần thiết để bảo vệ nguyên tắc đó”, ông Thảo nói.


