Theo Bộ GD-ĐT, dự thảo thông tư nhằm tthay thế Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT. Theo đó, các tiêu chuẩn này nhằm quy hoạch và đánh giá mạng lưới cơ sở giáo dục đại học; phục vụ đầu tư phát triển các cơ sở trọng điểm, chất lượng cao đạt chuẩn quốc tế; đồng thời làm căn cứ cấp phép, thu hồi giấy phép hoạt động và đình chỉ tuyển sinh đối với các cơ sở không đáp ứng điều kiện.

Bên cạnh đó, việc ban hành các tiêu chuẩn còn thúc đẩy tự chủ và nâng cao chất lượng đại học, tăng tính minh bạch và công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở đào tạo; đồng thời là căn cứ để các trường tự đánh giá, giám sát và thực hiện trách nhiệm giải trình về các điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động trước cơ quan quản lý và xã hội.

Dự thảo đưa ra 6 tiêu chuẩn và 19 tiêu chí về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, gồm:

Tiêu chuẩn 1: Tổ chức và quản trị

- Hệ thống văn bản quy chế, quy định quản trị nội bộ được ban hành đầy đủ, đúng thẩm quyền.

- Sứ mạng, chiến lược phát triển được ban hành, triển khai và giám sát hiệu quả qua bộ chỉ số hoạt động chính; ít nhất 50% chỉ số này phải cải thiện hằng năm.

- Dữ liệu quản lý về người học, các điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động của cơ sở được kết nối liên thông, cập nhật đủ, chính xác, kịp thời và nhất quán trên hệ thống HEMIS.

Tiêu chuẩn 2: Giảng viên

- Tỷ lệ người học quy đổi trên mỗi giảng viên không vượt quá 40.

- Tỷ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động không thấp hơn 70% tổng số giảng viên.

- Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ được quy định theo từng nhóm cơ sở như sau:

+ Đối với cơ sở không đào tạo tiến sĩ: Tối thiểu 20%, tăng lên 30% từ năm 2030.

+ Đối với trường đào tạo ngành đặc thù không đào tạo tiến sĩ: Tối thiểu 5%, tăng lên 10% từ năm 2030.

+ Đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ: Tối thiểu 40%, tăng lên 50% từ năm 2030.

+ Đối với trường đào tạo ngành đặc thù có đào tạo tiến sĩ: Tối thiểu 10%, tăng lên 15% từ năm 2030.

w thi danh gia nang luc hoc sinh nguyen hue 5 592.jpg
Ảnh minh họa: Nguyễn Huế.

Tiêu chuẩn 3: Cơ sở vật chất

- Từ năm 2030, diện tích đất tính bình quân trên mỗi người học chính quy quy đổi không nhỏ hơn 25 m2.

- Diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo không thấp hơn 2,8 m² trên mỗi người học. Ít nhất 70% giảng viên được bố trí chỗ làm việc riêng.

- Hệ thống thư viện và học liệu phải đáp ứng đầy đủ cho các chương trình đào tạo đang triển khai, đạt độ phủ 100%. Ít nhất 60% giảng viên và người học thường xuyên tiếp cận, khai thác và sử dụng học liệu.

- Cơ sở giáo dục phải có hệ thống học tập số phục vụ đào tạo. Tất cả giảng viên và người học được cấp tài khoản truy cập; tối thiểu 90% người học có phát sinh hoạt động học tập trên hệ thống trong năm học.

Tiêu chuẩn 4: Tài chính

- Biên độ hoạt động được xác định bằng chênh lệch thu chi trên tổng thu, tính trung bình 3 năm gần nhất không âm.

- Duy trì tăng trưởng tài chính ổn định, bền vững và đa dạng hóa nguồn thu phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển. Tốc độ tăng trưởng bình quân không âm trong 3 năm liền kề.

Tiêu chuẩn 5: Tuyển sinh và đào tạo

- Tỷ lệ nhập học so với chỉ tiêu công bố trong kế hoạch tuyển sinh hằng năm (tính trung bình 3 năm gần nhất) không thấp hơn 50%. Quy mô đào tạo không giảm quá 30% so với 3 năm trước.

- Tỷ lệ thôi học không cao hơn 10%; riêng đối với người học năm đầu không cao hơn 15%.

- Tỷ lệ tốt nghiệp được tính theo số người hoàn thành chương trình trong thời gian không quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn, đạt tối thiểu 60%. Trong đó, tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn đạt ít nhất 40%.

- Tỷ lệ người học hài lòng với giảng viên về chất lượng và hiệu quả giảng dạy đạt tối thiểu 70%. Tỷ lệ người tốt nghiệp hài lòng về toàn bộ quá trình học tập và trải nghiệm cũng đạt ít nhất 70%.

- Tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp chuyên môn, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp đạt tối thiểu 70%.

Tiêu chuẩn 6: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

- Tỷ trọng thu từ hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu của cơ sở có đào tạo tiến sĩ (tính trọng số theo lĩnh vực) bình quân 3 năm gần nhất không thấp hơn 5%.

- Số công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên mỗi giảng viên không thấp hơn 0,3 bài/năm. Đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ (không phải trường đào tạo ngành đặc thù), yêu cầu tối thiểu là 0,6 bài/năm, trong đó số bài thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus không thấp hơn 0,3 bài/năm.

Dự thảo đồng thời lần đầu bổ sung các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật và Sức khỏe.