
Tổ chức Times Higher Education (THE) vừa công bố bảng xếp hạng đại học châu Á tốt nhất năm 2026. Năm nay, Việt Nam có 11 trường được xếp hạng, tăng 2 đại diện so với năm ngoái.
Trường Đại học Nguyễn Tất Thành và Đại học Đà Nẵng lần đầu góp mặt trong bảng xếp hạng này, lần lượt ở vị trí 501-600 và 801+.
Đại học Kinh tế TPHCM vẫn tiếp tục dẫn đầu trong số các đại diện Việt Nam, nhưng tụt từ thứ hạng 136 xuống 184. Hầu hết các trường khác cũng tụt hạng so với năm ngoái như Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Mở TPHCM, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Huế.
Ba trường còn lại không thay đổi thứ hạng là Đại học Duy Tân, Trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Quốc gia TPHCM.
Thứ tự xếp hạng của các đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng đại học châu Á như sau:
|
TT |
Tên trường |
Thứ hạng năm 2026 |
Thứ hạng năm 2025 |
|
1 |
Đại học Kinh tế TPHCM |
184 |
136 |
|
2 |
Trường Đại học Tôn Đức Thắng |
251-300 |
201-250 |
|
3 |
Đại học Duy Tân |
251-300 |
251-300 |
|
4 |
Trường Đại học Y Hà Nội |
401-500 |
401-500 |
|
5 |
Trường Đại học Nguyễn Tất Thành |
501-600 |
- |
|
6 |
Đại học Bách khoa Hà Nội |
601-800 |
501-600 |
|
7 |
Trường Đại học Mở TP HCM |
601-800 |
501-600 |
|
8 |
Đại học Quốc gia Hà Nội |
601-800 |
501-600 |
|
9 |
Đại học Quốc gia TPHCM |
601-800 |
601+ |
|
10 |
Đại học Huế |
801+ |
601+ |
|
11 |
Đại học Đà Nẵng |
801+ |
- |
Xét trong khu vực châu Á, Trung Quốc tiếp tục “thống trị” bảng xếp hạng khi Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh vẫn giữ nguyên vị trí thứ nhất và thứ hai, đồng thời cũng là quốc gia duy nhất có 7 đại học lọt vào top 10.
Một số đại diện khác lọt vào nhóm này đến từ Singapore, Nhật Bản như Đại học Quốc gia Singapore (thứ 3), Đại học Công nghệ Nanyang (thứ 4), Đại học Tokyo (thứ 4).
Năm 2026, THE xếp hạng 929 đại học đến từ trên 36 quốc gia và vùng lãnh thổ. Malaysia lần đầu tiên có trường lọt top 40 và tăng gấp đôi số đại diện trong top 100 so với năm ngoái.
Các đại học được đánh giá dựa trên 18 tiêu chí, chia thành 5 lĩnh vực gồm: Chất lượng nghiên cứu (30%), môi trường nghiên cứu (28%), giảng dạy (24,5%), thu nhập từ chuyển giao tri thức (10%), triển vọng quốc tế (7,5%).
