Áp lực từ những “hàng rào xanh” quốc tế

Ngày càng nhiều thị trường quốc tế áp dụng các chính sách kiểm soát phát thải nghiêm ngặt, điển hình như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU).

Chia sẻ tại tọa đàm Talk GreenBiz - La bàn tăng trưởng xanh do Quỹ Vì tương lai xanh và báo Dân trí phối hợp tổ chức mới đây, TS. Nguyễn Sỹ Linh - Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ TN&MT), lưu ý, biến đổi khí hậu từ một vấn đề môi trường đơn thuần đã trở thành bài toán kinh tế và thương mại sống còn. Mối liên hệ giữa chính sách khí hậu, tài chính xanh và phát triển bền vững đang ngày càng chặt chẽ. 

“Doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu giảm phát thải, nếu không thì sẽ chịu chi phí bổ sung. Thời gian tới, nếu không chủ động điều chỉnh mô hình sản xuất, giảm cường độ phát thải và tiêu hao năng lượng, hàng hóa Việt Nam sẽ mất đi sức cạnh tranh về giá và có nguy cơ bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Linh cảnh báo.

Chuyển đổi xanh và tín chỉ carbon có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Nếu chuyển đổi xanh là quá trình hành động thì tín chỉ carbon chính là kết quả và là công cụ tài chính thúc đẩy quá trình đó. 

Theo TS. Nguyễn Phương Nam, Nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc KLINOVA, dù tín chỉ carbon thường được coi là “lợi ích cộng thêm”, nhưng các dự án chuyển đổi xanh bài bản sẽ mang lại dòng lợi nhuận ổn định và củng cố uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp.

Ông Nam phân tích: Doanh nghiệp tham gia các dự án chuyển đổi xanh không chỉ đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của nhà đầu tư quốc tế - những bên sẵn sàng rót vốn cho các dự án giảm phát thải khí nhà kính - mà còn nhanh chóng tiếp cận các tiêu chuẩn bền vững để tối ưu hóa chi phí. Tín chỉ carbon lúc này đóng vai trò là "nguồn vốn xanh" tái đầu tư, giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí chuyển đổi công nghệ ban đầu.

Anh bai 3.jpg
Ảnh minh họa.

"Chìa khóa" cho tương lai bền vững

Để có được tín chỉ carbon, doanh nghiệp không thể giữ nguyên cách sản xuất cũ. Chuyển đổi xanh chính là nền tảng bắt buộc để tạo lập loại tài sản đặc biệt này. Việc có tạo được tín chỉ hay không phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả vận hành thực tế - nơi doanh nghiệp phải chứng minh được việc giảm phát thải thông qua đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất xanh.

Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy mức độ sẵn sàng đang có sự phân hóa. Trong khi các doanh nghiệp thuộc chuỗi cung ứng toàn cầu đã chủ động tìm hiểu từ sớm, thì phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn trong việc hiểu đúng bản chất mối liên hệ này. 

TS Nguyễn Phương Nam cho hay: “Quá trình hình thành tín chỉ carbon gồm 5 bước từ đăng ký đến cấp chứng nhận và có thể kéo dài tới hai năm. Nhiều dự án thất bại do doanh nghiệp thiếu nguồn lực để duy trì đo đạc, giám sát và thẩm định định kỳ - bước bắt buộc để được cấp tín chỉ”.

Các chuyên gia khuyến nghị, để thành công thâm nhập thị trường quốc tế, doanh nghiệp Việt cần nhìn nhận chuyển đổi xanh là "con đường" và tín chỉ carbon là "phương tiện tài chính" giúp đi nhanh hơn. 

Việc nắm bắt xu hướng thương mại xanh không chỉ để đối phó với quy định pháp lý (như dùng tín chỉ để bù trừ tối đa 30% lượng phát thải vượt hạn ngạch theo Nghị định 119), mà còn giúp doanh nghiệp Việt tự tạo lợi thế cạnh tranh chủ động, cải thiện khả năng thâm nhập thị trường quốc tế.

Sự kiên trì, đầu tư nguồn lực đúng mức và tầm nhìn dài hạn là những yếu tố tiên quyết khi chuyển đổi xanh. Nếu chuyển đổi xanh thực chất và hiệu quả, doanh nghiệp Việt Nam sẽ sẵn sàng đáp ứng các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, bứt phá mạnh mẽ trên bản đồ kinh tế toàn cầu.