Giảm nghèo về thông tin được xác định là một nội dung quan trọng trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin ngày càng gắn với phổ cập kỹ năng số.

Đưa kỹ năng số đến tận thôn, bản

Khoảng cách số từng được nhìn nhận chủ yếu qua câu chuyện hạ tầng. Nay, một khoảng cách khác ngày càng được chú ý: khoảng cách về kỹ năng.

Ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, không phải người dân nào cũng quen với các thao tác trên môi trường số. Việc đăng ký một dịch vụ công trực tuyến, sử dụng định danh điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt hay tìm kiếm thông tin trên internet vẫn có thể là những việc mới mẻ.

Nếu thiếu người hướng dẫn, công nghệ rất dễ trở thành một cánh cửa mà người dân nhìn thấy nhưng chưa biết cách mở.

Những năm gần đây, nhiều địa phương đã triển khai các mô hình phổ cập kỹ năng số theo hướng gần dân, sát cơ sở. “Bình dân học vụ số”, tổ công nghệ số cộng đồng, “Đại sứ số”, “Người bản số”, “Thôn bản số”... đang tạo thành những kênh đưa kiến thức công nghệ đến gần hơn với người dân.

Cách làm cũng có sự thay đổi. Thay vì tập trung vào những nội dung mang tính lý thuyết, các lực lượng hỗ trợ hướng dẫn trực tiếp những kỹ năng gắn với đời sống. Người dân được chỉ cách sử dụng điện thoại thông minh, truy cập dịch vụ công, thanh toán điện tử, tìm kiếm thông tin, quảng bá sản phẩm, tiếp cận thương mại điện tử.

W-kỹ năng số.png
Người dân ở Nghệ An được hướng dẫn thao tác trên môi trường số.

Tại Đồng Tháp, các đội hình “Bình dân học vụ số” và tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử, thanh toán số và các ứng dụng thiết yếu. Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2026 có 100% người trưởng thành được trang bị kiến thức cơ bản về chuyển đổi số, trong đó 80% người trưởng thành được xác nhận đạt phổ cập kỹ năng số trên nền tảng VNeID.

Điểm đáng chú ý là cách triển khai theo hướng “cầm tay chỉ việc”. Người chưa thành thạo được hướng dẫn ngay trên thiết bị của mình. Người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân tại khu vực còn khó khăn được ưu tiên hỗ trợ.

Mạng lưới “Đại sứ số” cũng được xây dựng theo hướng người biết hướng dẫn người chưa biết. Mỗi người hướng dẫn hỗ trợ ít nhất 5 người dân tiếp cận những kỹ năng số cơ bản, từ đó hình thành mạng lưới hỗ trợ ngay trong cộng đồng.

Tại Hà Nội, các mô hình “Gia đình số”, “Mỗi công dân - Một danh tính số”, “Chợ số - Nông thôn số” được triển khai nhằm giúp người dân từng bước tiếp cận nền tảng số, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt.

Kỹ năng số mở thêm cơ hội sinh kế

Giá trị của phổ cập kỹ năng số không dừng ở việc giúp người dân biết sử dụng một ứng dụng hay hoàn thành một thủ tục trực tuyến. Quan trọng hơn, công nghệ đang mở thêm những kênh tiếp cận thị trường, việc làm và tri thức sản xuất.

Với nông dân, thông tin số có thể giúp cập nhật giá cả, tìm hiểu nhu cầu thị trường, học kỹ thuật sản xuất, quảng bá sản phẩm. Với hộ kinh doanh, môi trường số mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng. Với người lao động, các nền tảng trực tuyến cung cấp thêm kênh tìm kiếm việc làm và học nghề.

Tại Lâm Đồng, hơn 88.800 lượt người đã tham gia các lớp “Bình dân học vụ số”, được hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử và các nền tảng phục vụ sản xuất, kinh doanh. Các tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ nông dân tiếp cận thương mại điện tử, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tại Sơn La, phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai với sự tham gia của chính quyền, đoàn thể và lực lượng thanh niên. Khoảng 78% thanh thiếu niên đã được tiếp cận các hoạt động nâng cao năng lực số; 67% thanh niên sử dụng dịch vụ công trực tuyến và 83% sử dụng tài khoản thanh toán điện tử. Hơn 4.000 thành viên đội thanh niên tình nguyện tham gia hỗ trợ người dân tại cơ sở.

Tại Thanh Hóa, hạ tầng số đã phủ sóng tới 99,7% thôn, bản. Nhiều địa phương tổ chức các đợt hỗ trợ người dân vào cuối tuần, hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, cài đặt định danh điện tử và thực hiện giao dịch số. Riêng xã Thiệu Trung đã tiếp nhận hơn 1.300 hồ sơ trong một quý, trong đó hồ sơ trực tuyến chiếm trên 89%.

W-Nghệ an.png
Nhiều địa phương tổ chức các đợt hỗ trợ người dân hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, cài đặt định danh điện tử và thực hiện giao dịch số. 

Ở Lào Cai, các mô hình “Người bản số”, “Thôn bản số” được triển khai nhằm đưa kỹ năng số đến khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trọng tâm là hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu.

Từ thực tế này có thể thấy, giảm nghèo thông tin đang có thêm một phương thức mới. Nếu trước đây trọng tâm là đưa thông tin chính sách, kiến thức và thị trường đến với người dân, thì nay cần đồng thời trang bị cho họ khả năng tự tìm kiếm và khai thác nguồn thông tin đó.

Đây là điểm có ý nghĩa lâu dài đối với giảm nghèo bền vững.

Bởi, một khoản hỗ trợ có thể giải quyết khó khăn trước mắt nhưng năng lực tiếp cận thông tin giúp người dân chủ động hơn trước những thay đổi của đời sống và thị trường. Khi biết tìm kiếm thông tin về chính sách, người dân có thêm khả năng tiếp cận đúng quyền lợi. 

Theo định hướng giai đoạn tới, đến năm 2030 khoảng 80% đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng khó khăn được tiếp cận internet và các dịch vụ số thiết yếu. Đây là nền tảng để tiếp tục thu hẹp khoảng cách số, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, giáo dục, dịch vụ công và thị trường.

Trong tiến trình đó, đưa kỹ năng số về tận thôn, bản không phải một hoạt động riêng lẻ của chuyển đổi số. Đó còn là một giải pháp trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo thông tin, nâng cao năng lực của người dân và tạo thêm điều kiện để các chính sách giảm nghèo phát huy hiệu quả tại cơ sở.