Bà N.T.T, đại diện một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cho biết trong quá trình cung cấp dịch vụ và làm thủ tục hải quan cho khách hàng đã phát sinh một số vướng mắc.

Cụ thể, công ty thuê đơn vị thứ ba vận chuyển hàng hóa cho khách hàng. Khi phát sinh chi phí/hóa đơn dịch vụ nâng, hạ container tại cảng vào ban đêm, đối với các lô hàng từ 3 container trở lên, thực hiện tại cùng một cảng và trong cùng một ngày, tổng giá trị hóa đơn thường vượt mức 5 triệu đồng. 

Theo quy định, trường hợp này khách hàng phải thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản công ty thì mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Trong khi đó, các khoản chi này phát sinh vào ban đêm, thời điểm khách hàng không thể thực hiện chuyển khoản, dẫn đến nguy cơ hóa đơn do cảng xuất ra không đủ điều kiện để khách hàng được khấu trừ thuế GTGT. 

Do đó, bà T. đề nghị cơ quan chức năng hướng dẫn cách xử lý phù hợp để hóa đơn dịch vụ nâng, hạ container tại cảng phát sinh ngoài giờ hành chính vẫn được coi là thanh toán hợp lệ và đủ điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo quy định.

Trả lời vấn đề trên, Bộ Tài chính dẫn quy định tại Điều 26 Nghị định số 181/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Cụ thể, cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 5 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế GTGT. 

Trong đó, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024 của Chính phủ, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.

W-tien mat.jpg
Theo Bộ Tài chính, pháp luật về thuế giá trị gia tăng không quy định về giờ phải thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp. Ảnh: N.K

Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế GTGT bao gồm:

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán theo phương thức bù trừ với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra hoặc vay, mượn hàng, nếu phương thức này được quy định cụ thể trong hợp đồng và có biên bản đối chiếu, xác nhận giữa các bên. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền hoặc cấn trừ công nợ qua bên thứ ba, nếu được quy định cụ thể trong hợp đồng, thì phải có hợp đồng vay, mượn bằng văn bản được lập trước đó và chứng từ chuyển tiền qua ngân hàng. Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền bên bán hỗ trợ cho bên mua hoặc trường hợp bên mua chi hộ.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt theo hình thức ủy quyền qua bên thứ ba, bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán cho bên thứ ba do bên bán chỉ định, thì phương thức thanh toán này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng bằng văn bản. Bên thứ ba thực hiện thanh toán phải là tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động hợp pháp theo quy định.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.

- Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu tại điểm a, b, c và d khoản này mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào xác định tương ứng với số tiền chuyển vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước.

- Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh được khấu trừ thuế GTGT đầu vào căn cứ vào hợp đồng mua bán bằng văn bản, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được tạm thời khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Tuy nhiên, nếu đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng mà không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, cơ sở kinh doanh phải kê khai và điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với phần giá trị chưa đủ điều kiện.

- Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 5 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 5 triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một người nộp thuế có giá trị dưới 5 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 5 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Căn cứ quy định trên, Bộ Tài chính cho biết, Nghị định số 181 đã quy định chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba, bù trừ, cấn trừ công nợ qua bên thứ ba.

Ngoài ra, việc thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện theo pháp luật lĩnh vực ngân hàng, rất thuận tiện và thuộc quyền quyết định của doanh nghiệp phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Pháp luật về thuế GTGT không quy định về giờ phải thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp.

Do không có hồ sơ cụ thể kèm theo, Bộ Tài chính đề nghị bà T. nghiên cứu các quy định trên để thực hiện. Trường hợp có vướng mắc, đề nghị bà liên hệ với cơ quan quản lý thuế trực tiếp để được hướng dẫn.