Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ký ban hành Quyết định số 60/QĐ-BDTTG phê duyệt danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thôn đặc biệt khó khăn; xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026–2030 của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Theo danh sách này, giai đoạn 2026-2030, cả nước có 1.333 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; có 161 xã không thuộc vùng này nhưng có thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phân định theo trình độ phát triển, toàn vùng có 250 xã khu vực I, 259 xã khu vực II và 824 xã khu vực III.
Đáng chú ý, nhiều địa phương có số xã khu vực III chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng số đơn vị hành chính cấp xã, chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi phía Bắc.
Trong đó, Tuyên Quang có 87/124 xã khu vực III (tỷ lệ hơn 70,1%); Sơn La có 66/75 xã (tỷ lệ 88%); Lai Châu có 32/38 xã (tỷ lệ hơn 84,2%)… Đặc biệt, tỉnh Cao Bằng có 56 xã thì có tới 53 xã khu vực III, chiếm tỷ lệ hơn 94,6%.
Theo Quyết định số 60/QĐ-BDTTG, giai đoạn 2026-2030, toàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có 30.591 thôn, trong đó có 12.368 thôn đặc biệt khó khăn (bao gồm 11.516 thôn thuộc xã khu vực III, 679 thôn thuộc xã khu vực II và 104 thôn thuộc xã khu vực I). So với giai đoạn 2021-2025, toàn vùng giảm 854 thôn đặc biệt khó khăn.
Miền núi phía Bắc vẫn là khu vực có nhiều thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn nhất cả nước. Trong đó, tỉnh Tuyên Quang có 1.905/3.617 thôn đặc biệt khó khăn; Điện Biên có 923/1.446 thôn; Sơn La có 1.198/2.233 thôn…
Những con số phân định mới một lần nữa cho thấy miền núi phía Bắc vẫn là “vùng trũng” phát triển của cả nước, nơi bài toán giảm nghèo bền vững còn nhiều thách thức. Danh sách mới vì thế không chỉ là thống kê hành chính, mà còn là lời nhắc về một “vùng trũng” phát triển vẫn cần thêm nguồn lực và giải pháp mạnh mẽ, để miền núi phía Bắc sớm thoát khỏi “lõi nghèo” của cả nước.