Theo phản ánh của công dân, gia đình mua nhà và đất để ở, làm vườn từ năm 1979, có giấy tờ viết tay. Quá trình sử dụng, gia đình từng nhận thông báo nộp thuế đất ở vào năm 1982 và có xác nhận hộ khẩu thường trú giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1998.

Năm 1998, căn nhà trên đất quá cũ, xuống cấp và bị đổ. Do điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình không có khả năng xây dựng lại nên phải tạm thời chuyển đến chỗ ở khác.

Gia đình cho biết từ năm 1998 đến trước năm 2017 vẫn trông nom và làm vườn trên thửa đất, giữ nguyên hiện trạng và không thay đổi mục đích sử dụng đất.

Do không có nhà để ở, giai đoạn 1999-2017 gia đình không đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây, không có hóa đơn điện, nước, không có biên lai nộp thuế cùng các giấy tờ khác để chứng minh việc sử dụng đất vào mục đích ở.

Đến năm 2017, khi điều kiện kinh tế cho phép, gia đình xây lại nhà trên thửa đất.

Nay gia đình làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu thì được UBND xã yêu cầu cung cấp hồ sơ, giấy tờ thể hiện quá trình sử dụng đất trong giai đoạn 2003-2014 để làm cơ sở xem xét việc sử dụng đất ổn định.

Cho rằng yêu cầu này khó thực hiện vì đây chính là giai đoạn gia đình không còn nhà để ở, công dân đặt câu hỏi: Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên có đảm bảo đúng quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của gia đình? 

W-dat dai vietnamnet.jpg
Nhiều loại giấy tờ có thể chứng minh quá trình sử dụng đất. Ảnh minh họa: Hồng Khanh

Trả lời phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết đây là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để thi hành Luật Đất đai để xem xét, giải quyết.

Bộ nêu một số nguyên tắc để công dân tham khảo, đối chiếu. 

Bộ NN&MT dẫn khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, trong đó quy định “sử dụng đất ổn định” là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sử dụng đất ổn định.

Đáng chú ý, cách diễn đạt của Luật Đất đai năm 2024 đã thay đổi so với quy định trước đây.

Theo quy định cũ tại Nghị định 43/2014, “sử dụng đất ổn định” được xác định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất đến thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Theo Bộ, việc xác nhận sử dụng đất ổn định quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 đã được quy định tại tiết b2 điểm b khoản 4 Mục III nội dung C Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025 của Chính phủ.

Theo đó, trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai thì thực hiện xác định đất sử dụng ổn định theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai.

Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai thì xác định nguồn gốc sử dụng đất; xác định việc sử dụng đất ổn định theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai. 

Việc xác nhận sử dụng đất ổn định được căn cứ vào thời gian và mục đích sử dụng đất tại một trong các giấy tờ: biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; giấy tờ xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến đất đai hoặc công trình; bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực; giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có địa chỉ gắn với thửa đất.

Ngoài ra còn có giấy tờ về giao đất, mua hoặc nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất; giấy tờ mua bán nhà, tài sản gắn liền với đất hoặc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; bản đồ, tài liệu điều tra, đo đạc đất đai, sổ mục kê, sổ kiến điền; giấy tờ kê khai, đăng ký nhà đất có xác nhận của UBND cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh tại thời điểm kê khai kể từ ngày 15/10/1993 trở về sau và giấy tờ về đăng ký thường trú, tạm trú tại nhà ở gắn với đất ở.

Nếu không có các loại giấy tờ nêu trên hoặc giấy tờ không thể hiện rõ thời điểm và mục đích sử dụng đất, việc xác định còn có thể được thực hiện trên cơ sở nội dung kê khai của người sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất theo quy định.

Trường hợp các giấy tờ thể hiện thời điểm bắt đầu sử dụng đất không thống nhất, thời điểm sử dụng đất được xác định theo giấy tờ hoặc thông tin có ngày, tháng, năm sử dụng đất sớm nhất.

Việc cấp giấy chứng nhận lần đầu đã được pháp luật đất đai hiện hành quy định cụ thể các Điều 137, 138, 139 và 140 của Luật Đất đai.

Về trình tự, thủ tục hành chính về đất đai, trong đó có thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận lần đầu hiện hành đã được Chính phủ giao UBND cấp tỉnh quy định tại Điều 15 Nghị định số 49/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.