Từ mái chùa Tà Miệt giữa vùng Bảy Núi, tinh thần yêu nước, ý chí đại đoàn kết và niềm tin vào Đảng đã được hun đúc, tạo nên thế trận lòng dân vững chắc, góp phần vào những chiến thắng oanh liệt trong kháng chiến.
Lời tòa soạn: Giữa những hàng thốt nốt vươn cao dưới chân Núi Dài, chùa Tà Miệt Trên (xã Ô Lâm, tỉnh An Giang) không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi, mà còn là một địa chỉ lịch sử đặc biệt.
Nơi đây từng chứng kiến sự gắn bó bền chặt giữa đạo pháp và dân tộc, giữa niềm tin tôn giáo với lý tưởng cách mạng; đồng thời trở thành minh chứng sinh động cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong những năm tháng chiến tranh cũng như công cuộc xây dựng quê hương hôm nay.
VietNamNet thực hiện tuyến bài “Từ “pháo đài” Tà Miệt đến mạch nguồn đại đoàn kết giữa núi rừng Thất Sơn”, qua đó góp phần phản bác các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lan tỏa hình ảnh một cộng đồng Khmer giàu truyền thống yêu nước, đoàn kết và không ngừng vươn lên trong thời đại mới.
Chùa Tà Miệt – nơi giao hòa ý Đảng, lòng dân
Nắng vùng Thất Sơn xuyên qua những tán thốt nốt, rải từng vệt sáng trên con đường dẫn vào chùa Tà Miệt Trên (xã Ô Lâm, tỉnh An Giang). Tiếng kinh cầu trước giờ thọ thực vang lên trầm mặc giữa không gian thanh bình. Ít ai hình dung được rằng, dưới mái chùa cổ kính này từng diễn ra những sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử cách mạng địa phương.
Bia lưu niệm ghi dấu lịch sử Mặt trận trang trọng đã được khánh thành ngay trong khuôn viên chùa Tà Miệt Trên. Ảnh: Tùng Hương
Ông Nguyễn Tiếc Hùng, nguyên Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tỉnh An Giang, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về dân tộc và tôn giáo, chủ biên công trình “Lịch sử MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang 1930 - 2015”, chậm rãi lật lại những trang tư liệu:
“Ngày 20/12/1960, tại Ô Thum, xã Ô Lâm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh An Giang được thành lập. Hai tháng sau, ngày 20/2/1961, tổ chức chính thức ra mắt nhân dân. Trong buổi lễ lịch sử đó, Chủ tịch Bùi Đức Tâm đã đọc lời hiệu triệu kêu gọi đồng bào các dân tộc, tôn giáo, binh sĩ yêu nước đứng lên đấu tranh”.
Điều đặc biệt là địa điểm diễn ra sự kiện quan trọng ấy không phải một cơ quan hành chính hay một căn cứ quân sự bí mật, mà chính là chùa Tà Miệt Trên - một ngôi chùa Khmer nằm giữa vùng căn cứ cách mạng Thất Sơn.
Cách mạng ở An Giang ngay từ rất sớm đã bén rễ, đâm chồi từ chính khối đại đoàn kết dân tộc và uy tín của giới sư sãi Khmer.
Ông Chau Mô Ni Sóc Kha, Nhà nghiên cứu văn hóa Khmer
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Khmer Chau Mô Ni Sóc Kha, tiền thân chùa Tà Miệt Trên nằm ở vùng ruộng trên dưới chân Núi Dài, nay được gọi là chùa Tà Miệt Dưới. Trong những năm tháng kháng chiến, do là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng, chùa nhiều lần bị quân địch đánh phá ác liệt.
Để bảo vệ chư tăng và phật tử, năm Phật lịch 2483 (năm 1940), các sư sãi đã di dời đến khu vực sát chân Núi Dài, dựng một am nhỏ lợp tranh trên phần đất vườn xoài do ông Nập (Tà Nập) hiến tặng. Từ đó, một điểm tựa tâm linh mới hình thành - đồng thời trở thành nơi che chở, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong cộng đồng Khmer nơi đây.
Trong dòng chảy cách mạng, chùa không đứng ngoài cuộc. Các nhà sư vừa giữ vai trò hướng dẫn đời sống tinh thần cho đồng bào, vừa trở thành những người đồng hành cùng cách mạng.
Trong số 14 ủy viên Ủy ban Mặt trận tỉnh An Giang ra mắt năm 1961 có Hòa thượng Chau Sóc (sinh năm 1911), sãi cả chùa Wat Bâng (xã Ô Lâm). Ông trở thành vị sư Khmer đầu tiên của An Giang tham gia tổ chức Mặt trận tỉnh.
Đại đức Chau Ráp giới thiệu và hướng dẫn phật tử tìm hiểu về sãi cả Chau Sóc. Ảnh: Tùng Hương
Đại đức Chau Ráp, sãi cả chùa Wat Bâng, tự hào chia sẻ: “Hòa thượng Chau Sóc là một vị sư có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng Khmer. Ngài không chỉ giảng đạo mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, vận động đồng bào hướng về cách mạng”.
Ông Chau Sol (sinh năm 1937), một Phật tử từng sống dưới thời Hòa thượng Chau Sóc trụ trì, hiện cư trú tại xã Ô Lâm, vẫn nhớ rõ hình ảnh vị sư đáng kính:
“Hòa thượng Chau Sóc là người đa tài. Trong những buổi thuyết pháp, ngài khéo léo kết nối giáo lý nhà Phật với lòng yêu quê hương, đất nước. Những lời giảng về lòng từ bi, cứu khổ, cứu nạn được ngài gắn với khát vọng thoát khỏi áp bức, bất công. Nhờ đó, nhiều thanh niên Khmer khi ấy đã giác ngộ, tự nguyện tham gia cách mạng”.
Từ mái chùa ấy, nhiều thế hệ người Khmer đã bước vào con đường đấu tranh vì độc lập, tự do. Trong số đó có Néang Nghés (1942 - 1962), nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân dân tộc Khmer duy nhất của tỉnh An Giang.
Được hun đúc tinh thần yêu nước từ quê hương và mái chùa, khi tuổi đời còn rất trẻ, chị tham gia cách mạng, làm công tác giao liên, vận động nhân dân chống chính sách dồn dân lập “ấp chiến lược”.
Mộ phần Anh hùng liệt sĩ Néang Nghés tại xã Ô Lâm. Ảnh: Tùng Hương
Tháng 3/1962, trong một lần làm nhiệm vụ, chị bị địch bắt. Trải qua những trận tra khảo khắc nghiệt, người nữ chiến sĩ vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, không khai báo đồng đội. Ngày 15/3/1962, chị bị địch xử bắn tại cánh đồng thuộc phum Chông Khsách.
“Sự hy sinh của Néang Nghés không làm đồng bào Khmer nao núng, mà trở thành ngọn lửa tiếp thêm sức mạnh cho phong trào yêu nước trong cộng đồng”, ông Nguyễn Tiếc Hùng nhận định.
Câu chuyện về Néang Nghés, về Hòa thượng Chau Sóc và chùa Tà Miệt Trên đã trở thành những dấu mốc khẳng định truyền thống đoàn kết, một lòng theo Đảng, theo cách mạng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.
Ông Chau Sóc (bìa trái ảnh) chia sẻ sự kính trọng về hành động tự nguyện hiến đất mở rộng lộ nông thôn của ông Chau Sol (bìa phải ảnh). Ảnh: Tùng Hương
“Pháo đài” Tức Dụp và thế trận lòng dân kỳ diệu
Từ ngọn lửa cách mạng được nhen nhóm dưới những mái chùa Tà Miệt Trên, Wat Bâng, tinh thần yêu nước trong cộng đồng Khmer vùng Bảy Núi ngày càng lan tỏa mạnh mẽ. Những ngôi chùa không chỉ là nơi gửi gắm đời sống tâm linh, mà còn trở thành điểm tựa tinh thần, nơi kết nối nhân dân với cách mạng trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Tại hội thảo khoa học “Chiến thắng Đồi Tức Dụp trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước” do Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang tổ chức năm 2013, các nhà nghiên cứu và chuyên gia quân sự Quân khu IX nhận định: sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chính là một trong những nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng tưởng chừng không thể.
Một góc Đồi Tức Dụp, xã Ô Lâm, ngọn đồi được mệnh danh 2 triệu đô la. Ảnh: Tùng Hương
Nhiều bà mẹ Khmer dù gia đình thiếu trước hụt sau vẫn thắt lưng buộc bụng, nhịn ăn để dành từng lon gạo cho Bộ đội Cụ Hồ. Nhiều phụ nữ lấy lý do đi “cúng trăng”, “cúng thần núi” để mang thức ăn giấu vào cửa hang.
Bà Nguyễn Thị Nga, nguyên cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang
Minh chứng rõ nét nhất là cuộc chiến đấu kéo dài 128 ngày đêm tại Đồi Tức Dụp (từ ngày 17/11/1968 đến 24/3/1969). Ngọn đồi nằm giữa vùng Thất Sơn khi ấy được quân đội Mỹ đặt biệt danh “2 triệu đô la” bởi lượng bom đạn khổng lồ đã trút xuống nhằm đánh bật lực lượng cách mạng đang bám trụ.
Trong cuộc đối đầu sinh tử ấy, bên cạnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu dưới lòng núi, đồng bào Khmer quanh vùng đã tạo nên một mạng lưới hậu cần đặc biệt, góp phần duy trì sức chiến đấu của quân và dân ta.
Dù địch dùng máy bay B52 đánh phá ác liệt, làm sập chùa Snayđonkum (sau này bà con gọi là chùa B52), nhưng không thể khuất phục ý chí của người dân.
Bằng sự mưu trí và lòng quyết tâm, bà con Khmer đã bí mật đào hệ thống giao thông hào nối từ khu vực chùa B52 đến chân Đồi Tức Dụp để vận chuyển lương thực, thuốc men cho bộ đội. Nhiều phật tử bên ngoài mang danh nghĩa vào chùa dâng cơm, cúng Phật, nhưng thực chất là để tiếp tế cho lực lượng cách mạng.
Chùa B52, xã Ô Lâm. Ảnh: Tùng Hương
Khi màn đêm buông xuống, từ những hang núi hiểm trở, các chiến sĩ du kích âm thầm xuống nhận nhu yếu phẩm, rồi trở lại vị trí chiến đấu.
Không chỉ tiếp tế, người dân còn sẵn sàng che chở cán bộ, chiến sĩ trong những thời điểm hiểm nguy nhất. Có gia đình Khmer cho bộ đội trú ẩn, nhận là người thân để đánh lạc hướng quân địch. Có những nhà sư giúp chiến sĩ cải trang, xuống tóc, cùng ngồi tụng kinh niệm Phật để tránh các cuộc truy xét.
Những câu chuyện ấy cho thấy sức mạnh của niềm tin và sự gắn bó giữa nhân dân với cách mạng trong một giai đoạn lịch sử đầy thử thách.
Bà Nguyễn Thị Nga, nguyên cán bộ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, từng kể lại những ký ức xúc động:
“Nhiều bà mẹ Khmer dù cuộc sống còn thiếu thốn vẫn chắt chiu từng lon gạo dành cho Bộ đội Cụ Hồ. Nhiều phụ nữ lấy lý do đi ‘cúng trăng’, ‘cúng thần núi’ để mang thức ăn, thuốc men giấu vào các cửa hang”.
Chính sự đùm bọc, che chở ấy đã tạo nên một thế trận lòng dân vững chắc, giúp lực lượng cách mạng với điều kiện hạn chế có thể đứng vững trước những cuộc càn quét quy mô lớn của đối phương có máy bay, xe tăng và pháo binh yểm trợ...
Bài 2: Mạch nguồn đại đoàn kết từ "pháo đài" Tà Miệt đã vun đắp khát vọng phát triển
Tây Nam Bộ là địa bàn thường bị lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc chủ trương của Đảng, Nhà nước.Trước các chiêu trò chống phá ngày càng tinh vi, việc giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành cấp thiết.
Tây Nam Bộ đang phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nơi người có uy tín và cộng đồng đồng lòng xây dựng ‘thành lũy lòng dân’, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và cuộc sống bình yên tại thôn, ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số.