Bị sa thải sau hơn 5 năm làm việc

Ông Bùi Quốc N. làm việc tại Ngân hàng TMCP B. từ ngày 26/6/2018 theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, với mức lương thực lĩnh hơn 69 triệu đồng/tháng và mức lương đóng bảo hiểm xã hội 36 triệu đồng/tháng.

Ngày 10/9/2023, ngân hàng tạm đình chỉ công tác ông N. để làm rõ sai phạm trong công việc. Đến ngày 10/11/2023, ngân hàng tổ chức họp Hội đồng kỷ luật và ngày 8/12/2023 ban hành quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức sa thải đối với ông.

Không đồng ý, ông N. cho rằng việc xử lý kỷ luật không đúng quy định nên yêu cầu ngân hàng công khai xin lỗi, nhận trở lại làm việc và bồi thường theo quy định. 

Cụ thể, ông N. yêu cầu ngân hàng bồi thường 2 tháng tiền lương và phụ cấp do sa thải trái pháp luật là hơn 138 triệu đồng; tiền lương những ngày không được làm việc từ ngày sa thải đến ngày nộp đơn kiện (28/8/2024) là hơn 768,8 triệu đồng; cùng tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, tổng cộng gần 975 triệu đồng.

W-nhan vien ngan hang bi sa thai.jpg
Bị sa thải sau hơn 5 năm làm việc, nhân viên kiện ngân hàng, yêu cầu xin lỗi, nhận lại làm việc và bồi thường hơn 1,6 tỷ đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Sau đó, ông N. rút một phần yêu cầu khởi kiện, không còn yêu cầu ngân hàng thanh toán tiền lương trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác từ ngày 10/9/2023 đến ngày bị sa thải, mà chỉ yêu cầu tiền lương tính từ ngày bị sa thải đến ngày xét xử sơ thẩm.

Theo bản án sơ thẩm của TAND Khu vực 2 - TPHCM, tổng số tiền ông N. yêu cầu ngân hàng bồi thường là hơn 1,6 tỷ đồng.

Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông N. về việc yêu cầu ngân hàng công khai xin lỗi, nhận trở lại làm việc và bồi thường hơn 1,6 tỷ đồng. Không đồng ý, ông N. đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Người lao động nhận kết đắng 

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N. giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo. Ông cho rằng cuộc họp xử lý kỷ luật không được lập biên bản và thông qua trước khi kết thúc, không có chữ ký của người bị xử lý kỷ luật; chủ tịch Hội đồng kỷ luật không có tư cách theo quy định. Đồng thời, việc tổ chức họp trực tuyến không đúng quy định và ngân hàng không đưa ra được chứng cứ chứng minh lỗi của ông.

Ngân hàng không đồng ý với kháng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xem xét vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng, ngân hàng đã ban hành quyết định thành lập và triệu tập họp Hội đồng kỷ luật, trong đó thể hiện rõ thời gian, địa điểm, hình thức và thành phần cuộc họp. Quyết định này được chuyển cho ông N. qua thư điện tử và gửi trực tiếp. Ông N. cũng có mặt tại cuộc họp nên không có căn cứ cho rằng ông không được thông báo hoặc người gửi thông báo không có thẩm quyền.

Tòa xác định bà H. là Chủ tịch Hội đồng kỷ luật theo ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng quản trị, nên có đủ tư cách. Cuộc họp trực tuyến cũng có đầy đủ các thành viên theo quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật.

Tòa cho rằng, ông N. không đưa ra được căn cứ cho thấy việc tổ chức họp trực tuyến tại thời điểm đó vi phạm pháp luật hoặc ông đã yêu cầu họp trực tiếp nhưng không được chấp nhận. Vì vậy, lý do kháng cáo liên quan đến hình thức họp không có căn cứ.

Đối với trình tự xử lý kỷ luật, bản án phúc thẩm xác định ông N. đã được trình bày ý kiến để bảo vệ mình tại cuộc họp. Ông N. không đồng ý với kết luận cho rằng ông đã phê duyệt giá trị tài sản cao hơn nhiều lần so với giá thị trường, đồng thời trình bày các ý kiến liên quan đến việc định giá.

Sau cuộc họp, Hội đồng xử lý kỷ luật thống nhất hình thức xử lý là sa thải. Ông N. cũng nhận được biên bản cuộc họp nhưng không ký. Tòa cho rằng việc lập biên bản rồi gửi qua hộp thư để các thành viên tham gia đọc là có thể chấp nhận.

Về nội dung vi phạm, ngân hàng căn cứ vào việc ông N. phê duyệt giá cao hơn giá thị trường đối với các tài sản bảo đảm cho một số khoản vay. Hồ sơ cũng thể hiện có trường hợp tài sản được định giá nhưng thực tế không có đường vào như hồ sơ khảo sát lưu trên hệ thống.

Đáng chú ý, trong bản giải trình, ông N. trình bày rằng đối với các khoản vay cá nhân của ông và vợ, ông đã nhờ Tổ Thẩm định giá hỗ trợ định giá cao hơn thị trường tại thời điểm thẩm định để có thể vay lại số tiền đã mua tài sản. Ông cũng nhận sai sót trong việc phê duyệt giá trị tài sản cao hơn thị trường tại thời điểm thẩm định để hỗ trợ nhân viên Phòng Thẩm định giá phía Nam vay vốn.

Ông N. cho rằng mình bị ép buộc do ngân hàng yêu cầu tất toán hợp đồng tín dụng trong vòng một tháng nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Tòa xác định việc ngân hàng yêu cầu tất toán khoản vay trước hạn là thủ tục đối với các khoản vay vi phạm.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng, cấp sơ thẩm có cơ sở xác định ông N. đã thừa nhận lỗi. Hành vi của ông được xác định làm tăng rủi ro tín dụng, phát sinh nợ xấu và nguy cơ thất thoát vốn, ảnh hưởng đến hoạt động và uy tín của ngân hàng.

Tòa xác định hành vi của ông N. vi phạm nội quy lao động và vi phạm quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, nên có cơ sở không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông N. và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(Bài viết dựa trên Bản án số 87/2026 của TAND TPHCM)