Đến thăm Ấn Độ, Tổng thống Mỹ Barack Obama muốn hướng tới một trong số các thị trường tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhằm tạo việc làm tại Mỹ. Nhiều chủ doanh nghiệp Mỹ hiện coi Ấn Độ là “Trung Quốc mới” – một trung tâm dịch vụ và sản xuất ngày càng quan trọng và cũng là thị trường tiêu thụ hàng hóa của Mỹ.
Khi cuộc suy thoái vẫn còn tiếp tục hoành hành tại Mỹ và nhiều nước châu Âu, nền kinh tế Ấn Độ lại tăng trưởng với con số ấn tượng 9% trong năm nay. Dù giữa hai nền kinh tế có nhiều khác biệt, nhưng Mỹ có thể học được gì từ Ấn Độ về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế? Các chính sách hay thể chế của Ấn Độ có thể đem lại bài học gì hấp dẫn cho Mỹ?
Tuần Việt Nam xin giới thiệu ý kiến của các chuyên gia về việc này, đăng trên tờ New York Times của Mỹ nhân chuyến thăm Ấn Độ của ông Obama vừa qua.
Tìm những giải pháp nhỏ và mềm dẻo
Theo Bộ trưởng phát triển Nhân lực của Ấn Độ, cũng là Giáo sư về luật Sở hữu trí tuệ tại đại học quốc gia Khoa học Luật ở Calcutta, ông Shamnad Basheer, phương châm "nằm lòng" của hãng sản xuất xe hơi Tata Nano của Ấn Độ là các giải pháp nhỏ và khéo léo. Có thể đây chính là mô hình cải tiến mà đa số các công ty Ấn Độ đều đi theo, và Mỹ có thể học tập được.
Tại Mỹ, Godzilla vẫn đang là đỉnh cao và những cái hoành tráng được coi là đẹp. Một số người gọi giải pháp của Ấn Độ là mô hình cải tiến "ngược". Một số khác gọi đây là "jugaad" (loại xe công nông tự chế của Ấn Độ thường được dùng trong các ngôi làng nhỏ), khái niệm gắn với các giải pháp rẻ tiền và khéo léo về giảm thiểu nguyên liệu, giống như chiếc máy xay bột mini vận hành kiểu bán tự động.
![]() |
Tại sao các công ty phần mềm của Ấn Độ phát triển thịnh vượng?
Động cơ chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ là các công ty phần mềm như TCS, Infosys và Wipro. Làm sao một nước nghèo như Ấn Độ có thể cạnh tranh với quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao như vậy?
Theo Ashish Arora, một chuyên gia kinh tế và là giáo sư tại Đại học Kinh tế Fuqua thuộc Đại học Duke, không kể đến yếu tố may mắn, Ấn Độ đã thành công trong lĩnh vực phần mềm là nhờ giới chủ biết nắm bắt cơ hội, cũng như chính sách cởi mở và kết nối với nền kinh tế thế giới.
Đúng là Ấn Độ có lực lượng kỹ sư đông đảo, luôn sẵn lòng làm việc với mức lương thấp. Nhưng làm sao một quốc gia với thu nhập bình quân đầu người dưới 500 USD lại có thể tạo ra nhiều kỹ sư đến vậy? Và tại sao các nước khác, có nhiều tài năng khoa học hơn như Philippines và Nga lại không thể tái tạo tài năng này như Ấn Độ đã làm được?
Sau 15 năm tăng trưởng ì ạch, Ấn Độ bắt đầu tự do hóa nền kinh tế vào giữa những năm 1980, vì vậy, họ đã được chuẩn bị tốt khi đến thời bùng nổ I.T đầu những năm 1990. Các công ty đa quốc gia của Mỹ đã tích cực thâm nhập thị trường này. Những công ty như Citigroup, Motorola và Texas Instruments đã thấy rằng Ấn Độ có tài năng phần mềm và giới chủ trong lĩnh vực này rất biết nắm bắt cơ hội.
Đáng chú ý là một quốc gia mà khối doanh nghiệp tư nhân khổng lồ hầu như chỉ tìm cách sinh lời lại có thể sản sinh ra nhiều ông chủ đến vậy. Đáng kể hơn là ngành công nghiệp phần mềm lại có thể trở thành một chất xúc tác cho tăng trưởng kinh tế.
Trên thực tế, các ông chủ trong lĩnh vực phần mềm ở Ấn Độ đến từ mọi miền trên đất nước và từ cả cộng đồng người Ấn ở Mỹ. Tuy nhiên, ngành công nghiệp đang lớn mạnh này có thể mất đà nhanh chóng nếu lương của kỹ sư phần mềm hiện nay tăng cao, hoặc nếu các công ty không hài lòng với sự quản lý của chính phủ. Nhưng cả hai điều này đều không xảy ra. Ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ vẫn đi trên chiếc thảm đỏ của nhà nước cùng với việc thúc đẩy sản xuất chíp bán dẫn và phần cứng máy vi tính.
Phần mềm đã được hưởng lợi từ nhiều chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu (dù không chính sách nào trực tiếp tạo điều kiện cho phần mềm). Tuy nhiên, những chính sách nhằm duy trì tăng trưởng trong lĩnh vực phần mềm lại không đáng kể. Không giống các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Ấn Độ, giáo dục không phải là nền tảng của chính phủ liên bang. Nhưng thật may mắn, một số bang như Karnataka, nơi có thủ phủ là Bangalore nổi tiếng với Thung lĩnh Silicon của Ấn Độ, đã cho phép mở các trường tư thục đào tạo kỹ sư. Chính các trường tư này đã "xuất xưởng" rất nhiều kỹ sư thông minh và đầy nhiệt huyết nghề. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều bạn trẻ mong muốn kiếm được mức lương cao nhờ tấm bằng kỹ sư, vì vậy "những ông chủ hàn lâm" cũng bắt đầu mở thêm trường mới.
Một điểm đặc biệt nữa là Ấn Độ đã kết nối được với nền kinh tế toàn cầu (đặc biệt là Mỹ) theo nhiều cách khác nhau, thông qua một ngôn ngữ chung là tiếng Anh, thông qua tự do hóa kinh tế trong những năm 1990, tạo cơ hội cho ngoại thương, và thông qua cộng đồng người Ấn, những người góp phần kết nối ngành công nghiệp phần mềm mới với khách hàng ở Mỹ và Tây Âu.
Có một bài học từ kinh nghiệm này. Mỹ vốn hưởng lợi rất nhiều từ sự việc mở cửa với thế giới, nhưng hiện đang đứng trước nguy cơ trở nên ít cởi mở hơn, ít kết nối hơn và không còn hiếu khách với thế giới bên ngoài. Cuộc tranh luận gay gắt về nhập cư, "cuộc chiến chống khủng bố", và chủ nghĩa bảo hộ thương mại đang khiến Mỹ không còn rộng vòng tay với những người nước ngoài tài năng và tham vọng, những người sẽ đem đến làn sóng cách tân tiếp theo trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, y tế, năng lượng và môi trường.
Thứ hai, hãy để các lực lượng thị trường quyết định ai sống sót và ai thịnh vượng. Các công ty phần mềm của Ấn Độ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là vì các công ty này được vận hành bởi những ông chủ minh bạch, luôn muốn chia sẻ tài sản sạch của mình với nhân viên và các cổ đông.
Ở Ấn Độ, mọi người đều nhất trí tạo tăng trưởng dựa trên thị trường và điều này không hề thay đổi dù cho đảng nào lên cầm quyền. Điểm này thực ra không phải là mới đối với Mỹ, nước từng là tấm gương cho phần còn lại của thế giới về việc các tập đoàn nhà nước nên được quản lý và điều tiết như thế nào. Nhưng Mỹ cũng cần cải thiện nhiều hơn trong việc quản lý các lĩnh vực như tài chính và chăm sóc sức khỏe.
Các chính sách nhằm thúc đẩy cải tiến - như thành lập các tập đoàn, giảm thuế đánh vào vốn kinh doanh, hỗ trợ cho nghiên cứu và phát triển hay ưu đãi cho các ngành công nghiệp trọng điểm - thì không có gì phải bàn. Nhưng vấn đề thực sự lại là nền tảng: nguồn cung tài năng, sự kết nối với thế giới bên ngoài, và sự tự do của giới chủ trong việc thành hay bại.
Tăng tiết kiệm, tăng đầu tư
Nhiều chuyên gia kinh tế tin rằng đến năm 2015, tăng trưởng GDP của Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc. Rất nhiều xu hướng tại Ấn Độ dẫn tới kết luận này, trong đó có lực lượng lao động có học vấn ngày càng cao và trẻ, trong khi số người về hưu phải chăm lo là tương đối ít, các cuộc cải cách cơ cấu được Chính phủ Ấn Độ tiếp tục tiến hành, và chi tiêu cho cơ sở hạ tầng ngày càng gia tăng.
Nhưng có một yếu tố rõ rệt mà Mỹ có thể học tập là từ chính cách Ấn Độ thoát khỏi cuộc suy thoái của mình: người Ấn Độ tiết kiệm khoảng 33-36% tổng GDP, trong khi con số này ở Mỹ là 11-13%. (Trung Quốc là 51%). Tại sao vậy?
Dù chi tiêu của người tiêu dùng có thể giúp nền kinh tế quốc gia thoát khỏi suy thoái trước mắt, nhưng về lâu dài, tăng tiết kiệm sẽ hữu ích hơn. Nếu người dân gửi càng nhiều tiền vào các ngân hàng Mỹ đồng nghĩa với việc sẽ có càng nhiều tiền sẵn sàng để đầu tư - hoạt động cần thiết để đạt tăng trưởng cao hơn.
Người Ấn Độ có những lý do chính đáng để tiết kiệm nhiều hơn người Mỹ: Ấn Độ không có các mạng lưới an sinh xã hội, không bảo hiểm thất nghiệp, không bảo hiểm y tế thực sự. Tại các nước phương Tây, việc tồn tại nhiều mạng lưới an sinh khiến người ta mất thói quen tiết kiệm.
Tuy nhiên, người Mỹ cũng có không ít lý do để bắt đầu tiết kiệm ngay từ bây giờ. Họ đã mất một lượng tài sản khổng lồ trên thị trường chứng khoán trong vài năm qua, và nhiều người, đặc biệt là những người sinh ra sau chiến tranh giờ sắp về hưu, đang trở thành gánh nặng lớn. Tiền chi cho an sinh xã hội đã vượt quá nguồn thu, đe dọa đến tương lai của chính hệ thống này. Thâm hụt ngân sách khổng lồ của Chính phủ Mỹ sẽ dẫn tới tăng thuế trong tương lai. Vì những lý do đó, tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao ở Ấn Độ có thể xứng đáng là tấm gương tốt cho Mỹ.
Giáo dục công nghệ cao
Bà Chitra Divakaruni, tác giả tiểu thuyết "Một điều kỳ diệu" (One amazing thing), hiện đang giảng dạy văn học tại Đại học Houston, cho rằng để giành lại một mũi nhọn cách tân, Mỹ nên nhìn vào hệ thống Viện Công nghệ của Ấn Độ.
Dưới tác động của một cuộc suy thoái lớn, và bị mệt mỏi bởi những cuộc cãi vã giữa hai đảng, Mỹ đã tụt xuống vị trí thứ 27 trong các quốc gia phát triển về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ sư và khoa học. Mỹ đã tự đánh mất mình trong chính ngành công nghiệp được cho là đỉnh cao của họ: giáo dục đại học. Để cạnh tranh toàn cầu, Mỹ cần tạo ra các công nhân bản địa được đào tạo tốt hơn về công nghệ và cách tân. Đây chính là lĩnh vực mà hệ thống Viện Công nghệ của Ấn Độ có thể đem tới cho Mỹ một số ý tưởng.
Các trung tâm Viện Công nghệ của Ấn Độ (được chính phủ thành lập từ những năm 1950 và tài trợ rất nhiều) luôn "xuất trường" những cử nhân nằm trong số những ông chủ và nhà cách tân thành công nhất thế giới. Các "gia giảm" tạo nên kinh nghiệm của họ bao gồm: một bài kiểm tra đầu vào gắt gao nhằm tìm nhân tài thực sự (không phụ thuộc vào việc bạn tốt nghiệp trường trung học nào, quá trình công tác của bạn thế nào hay bạn xuất thân từ đâu); những năm học khắc nghiệt từ đầu đến cuối, buộc các sinh viên phải nghiên cứu cực kỳ nặng nhọc; sự huy động tối đa các nguồn lực và hợp tác (các sinh viên thường dùng chung sách giáo khoa hoặc các phương tiện nghiên cứu và học hỏi lẫn nhau); sự bắt buộc phải sống trong ký túc xá (mọi người cùng ký túc là gia đình của bạn). Kết quả là: một mạng lưới sinh viên ưu tú đẳng cấp quốc tế, nổi tiếng vì những thành quả nghiên cứu, tinh thần giúp đỡ lẫn nhau, và sự đền đáp công ơn. Các sinh viên tốt nghiệp ra trường đã thành lập các công ty hàng đầu, tạo thêm nhiều việc làm, hiến tặng hàng triệu USD cho trường học của mình cũng như tài trợ cho nhiều công ty phi lợi nhuận của Ấn Độ và cả của Mỹ.
Hệ thống này tất nhiên vẫn chưa hoàn thiện. Sức ép lớn của nó đôi khi khiến một số sinh viên phải "đứt gánh giữa đường". Mục tiêu tập trung hẹp trong lĩnh vực công nghệ cũng tạo ra khoảng cách trong giáo dục đại học. Sinh viên nữ không được coi trọng đúng mức trong khu ký túc. Tuy nhiên, vẫn có nhiều điều mà Mỹ có thể học tập từ các viện này nếu muốn giành lại mũi nhọn cách tân.
Cuộc chiến chống bảo hộ
Theo ông Arvind Panagariya, giáo sư kinh tế học và kinh tế chính trị Ấn Độ tại Đại học Columbia (Mỹ), có hai bài học mà Mỹ có thể học từ Ấn Độ.
Đầu tiên chính là bài học mà Mỹ đã từng dạy Ấn Độ và nhiều nước khác nhưng giờ đây họ đang dần quên nó: mở cửa cho thương mại toàn cầu về hàng hóa và dịch vụ có vai trò đặc biệt quan trọng giúp giành ưu thế hoàn toàn về cắt giảm chi phí và cải tiến sản phẩm - điều đang diễn ra trên toàn thế giới.
Trong gần bốn thập kỷ từ năm 1950-1990, Ấn Độ đã trung thành với chính sách tự cấp tự túc và đã không tận dụng được lợi thế trong cuộc cạnh tranh và cách tân toàn cầu để tăng sản lượng. Chính việc mở cửa dần dần với các thị trường thế giới đã cho phép Ấn Độ lần đầu tiên tăng trưởng 6%/năm và trong vài năm gần đây con số này lên tới 8%/năm.
Thật không may là chính quyền Mỹ hiện nay đang để mặc cho các hình thức bảo hộ thương mại. Mới đây họ đã áp đặt mức thu phí 2.000 USD hoặc hơn đối với thị thực H1-B và L-1, loại dành cho lao động nước ngoài lành nghề. Một ví dụ khác là sự phân biệt đối xử về thuế dựa trên số việc làm mà các công ty tạo ra ở trong nước hay ở nước ngoài.
Nhưng trong nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh cao hiện nay, nếu một công ty chuyển 5.000 việc làm ra nước ngoài, họ có thể làm tương tự để giữ khoảng 50.000 chỗ làm khác trong nước mà lẽ ra phải mất. Giống như trường hợp Boeing mua thép giá rẻ ở nước ngoài để có thể cạnh tranh được với Airbus. Nếu buộc Boeing chỉ được sử dụng nguyên liệu thép trong nước thì chắc chắn kết quả sẽ là số người mất việc làm tại Boeing sẽ nhiều hơn số việc làm tạo ra thêm trong ngành công nghiệp thép của Mỹ.
Bài học thứ hai mà Mỹ có thể học từ Ấn Độ là lĩnh vực tài chính và các lĩnh vực "thực" trong nền kinh tế không hề giống nhau và nên được quản lý theo những cách khác nhau. Các thị trường tự do và cạnh tranh, nhìn chung rốt cục giúp thúc đẩy tính hiệu quả của lĩnh vực "thực", vốn tạo ra hàng hóa và dịch vụ. Sự can thiệp của chính phủ trong lĩnh vực "thực" - như họ đã làm với General Motors - là phản tác dụng.
Mặt khác, quản lý thận trọng là cần thiết và rất quan trọng trong lĩnh vực tài chính, vì sự bóp méo xuất phát từ thông tin thiếu chân thực và không cân xứng vốn rất phổ biến trong lĩnh vực này.
Dù Ấn Độ vẫn quản lý hơi thái quá và sẽ cần tiếp tục nới lỏng, nhưng họ đã tránh được các thiệt hại lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính mới đây, chủ yếu là vì các ngân hàng và thể chế tài chính của họ đã trở thành mục tiêu của sự điều chỉnh nghiêm ngặt. Lập luận cho các dòng vốn hoàn toàn tự do của Mỹ và Quỹ Tiền tệ Quốc tế có những hạn chế rất lớn./.
Quốc Thái dịch theo Nytimes.com
