Từ lâu nay, trên thế giới, quản trị giáo dục đại học đã được xem là đặc quyền bất khả xâm phạm của các cơ quan Trung ương, thường là Bộ Giáo dục, nhằm duy trì sự thống nhất về tiêu chuẩn học thuật, sự gắn kết tư tưởng và đồng bộ hóa với chiến lược kinh tế vĩ mô của quốc gia. 

Tuy nhiên, hiện nay, có một làn sóng phân cấp mạnh mẽ đang diễn ra trên toàn cầu, chuyển giao dần quyền lực lập, giải thể đại học xuống chính quyền bang, tỉnh và thành phố. Khi sửa đổi Luật Thủ đô lần này, một đề xuất lập pháp cũng đang thu hút sự chú ý đặc biệt khi đặt ra vấn đề giao thẩm quyền quyết định thành lập và giải thể các trường đại học tư thục cho Chủ tịch UBND TP Hà Nội.

hà nội
Thành phố Hà Nội

Đề xuất táo bạo này phản ánh sự chuyển dịch sâu sắc trong tư duy chính sách, mang theo kỳ vọng cắt giảm nhiều thủ tục, đồng thời kích hoạt nguồn vốn đầu tư tư nhân và giúp cân bằng giữa đào tạo và nhu cầu phát triển kinh tế đặc thù của Thủ đô. 

Nhìn ra thế giới, việc trao quyền thành lập hoặc giải thể một tổ chức học thuật cho một nhà lãnh đạo đô thị là một cơ chế cực kỳ phức tạp và hiếm khi được áp dụng tuyệt đối. Việc phân cấp này giống như một con dao hai lưỡi khi nơi thành công sẽ kiến tạo nên những trung tâm đổi mới sáng tạo đẳng cấp thế giới, nơi thất bại sẽ phải trả giá bằng sự bùng nổ của các "công xưởng sản xuất bằng" cùng với sự giảm chất lượng giáo dục.

Sức mạnh kiến tạo của các siêu đô thị

Tại Hoa Kỳ, thành phố New York là một minh chứng xuất sắc với hệ thống Đại học Thành phố New York (CUNY) - hệ thống đại học công lập lớn thứ ba nước Mỹ.

CUNY được vận hành trên một thế cân bằng quyền lực tinh tế khi Hội đồng quản trị gồm 17 người thì có 10 đại diện do Thống đốc bang bổ nhiệm và 5 người do Thị trưởng thành phố bổ nhiệm. Chính quyền thành phố tham gia sâu vào việc ứng trước chi phí hoạt động và duy trì tài trợ cho các trường cao đẳng cộng đồng. Tuy nhiên, điểm mấu chốt mang tính sống còn ở đây là sự tách biệt tuyệt đối khi Thị trưởng có thể cấp phép lập trường và quy hoạch đất đai, nhưng cơ sở đó không thể được cấp bằng hay nhận tài trợ liên bang nếu không vượt qua được quá trình kiểm định khắt khe của các cơ quan kiểm định độc lập phi chính phủ (như MSCHE).

Thâm Quyến (Trung Quốc) là nguyên mẫu hoàn hảo cho việc chính quyền thành phố dùng quyền lực hành chính và tài chính để bứt tốc cho trường đại học. Thành lập Đại học Thâm Quyến (SZU) vào năm 1983 nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, chính quyền Thâm Quyến không chỉ cấp phép mà còn tài trợ rất nhiều kinh phí, có lúc vượt mức 6 tỷ nhân dân tệ để xây dựng hạ tầng và thu hút nhân lực tinh hoa. Bằng quy chế đặc biệt này, Thâm Quyến đã lập ra Làng đại học Thâm Quyến (UTSZ), trải thảm đỏ cho các đại học Bắc Kinh, Thanh Hoa về mở cơ sở sau đại học tại đây. Tuy nhiên, quyền thẩm định tối cao về học thuật và cấp bằng vẫn phải tuân thủ quy định của Bộ Giáo dục quốc gia.

Tại Trung Đông, Dubai mang đến một mô hình đặc thù cho các đặc khu kinh tế. Dubai thực hiện quyền quản lý và cấp phép các trường tư thục tại các Khu vực tự do (Free Zones) mà không cần hệ thống kiểm định quốc gia. Dù vậy, để chặn đứng nguy cơ suy giảm chất lượng học thuật, Dubai đã lập ra Ủy ban quốc tế đảm bảo chất lượng đại học. Theo đó, bất cứ phân hiệu nào mở tại Dubai cũng phải sao y bản chính tiêu chuẩn học thuật của cơ sở mẹ ở nước ngoài. Điều này cho phép thành phố phát triển nóng về các trường đại học nhưng vẫn có được chất lượng theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Khi phân cấp trở thành thảm họa

Tuy nhiên, khi quyền lực giáo dục rơi vào tay các nhà điều hành địa phương thiếu năng lực quản lý về thể chế, thiếu cơ kiểm tra, giám sát hoặc thiếu minh bạch tài chính, sự đổ vỡ mang tính hệ thống là điều tất yếu.

Tại Brazil, việc cung cấp nguồn vốn khổng lồ từ liên bang xuống cấp bang và thành phố cho giáo dục đã phơi bày điểm yếu cơ bản khi chính quyền địa phương thiếu năng lực quản lý tài chính. Kết quả là một cuộc "chảy máu" ngân sách kéo theo sự sụt giảm nghiêm trọng về điểm số và gia tăng tỷ lệ bỏ học ở các khu vực đô thị xảy ra do việc quản lý thiếu hiệu quả này. 

Ở Nam Phi và Zimbabwe, việc thả nổi cho tư nhân mở trường đại học đã biến lĩnh vực giáo dục đại học thành môi trường béo bở cho các tổ chức trục lợi. Thiếu một cơ quan quản lý chất lượng trung ương đủ uy lực đã khiến các trường đại học mọc lên với giảng viên không đủ chuẩn và cơ sở hạ tầng tồi tàn. Quy định cấp phép lúc này trở thành tấm bình phong cho các "công xưởng sản xuất bằng" hoạt động vì lợi ích thương mại thuần túy.

Ở một số quốc gia như Philippines hay Ấn Độ, khi giao thẩm quyền mở trường cho các chính trị gia địa phương. Các thủ tục xin giấy phép và kiểm định đã trở thành những giao dịch ngầm, nơi nạn hối lộ và môi giới ảnh hưởng làm xấu đi hình ảnh môi trường học thuật.

Tách bạch quyền lực và khoanh vùng rủi ro

Hà Nội, với vị thế thủ đô, mang sứ mệnh đầu tàu đổi mới sáng tạo và bồi dưỡng nhân lực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo hay bán dẫn. Rõ ràng, việc Chủ tịch Hà Nội được trao quyền là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, để tái hiện kỳ tích của Thâm Quyến hay CUNY thay vì rơi vào vết xe đổ của các đô thị Nam Mỹ hay Châu Phi, đề xuất này cần được bảo vệ bởi những thể chế nghiêm ngặt.

Thứ nhất, thẩm quyền của Chủ tịch Hà Nội chỉ nên gói gọn trong phạm vi hành chính và kinh tế - xã hội (cấp đất, duyệt năng lực tài chính, quy hoạch). Trước khi trường được tuyển sinh và cấp bằng, cơ sở đó bắt buộc phải có sự kiểm định học thuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quyền lực hành chính giao cho thành phố nhưng quyền lực học thuật thì vẫn cần Bộ Giáo dục và Đào tạo kiểm soát.

Thứ hai, học tập Dubai, Hà Nội cần lập một "Hội đồng tư vấn đầu tư và chất lượng giáo dục đại học" gồm các học giả và chuyên gia độc lập để thẩm định kỹ lưỡng hồ sơ trước khi đệ trình. Chủ tịch Thành phố không nên đưa ra quyết định độc lập và việc thông qua Hội đồng này sẽ bảo đảm được tính khách quan, minh bạch, khoa học, hiệu quả trước khi ra quyết định.

Thứ ba là quản lý chặt chẽ đất đai. Lỗ hổng lớn nhất khi lập trường tư thục chính là mượn danh giáo dục để thâu tóm đất vàng. Luật Thủ đô cần luật hóa điều khoản khi thành lập trường phải gắn vĩnh viễn đất đai với mục đích giáo dục. Nếu trường bị giải thể, quỹ đất đó phải thu hồi về nhà nước hoặc chuyển giao cho cơ sở giáo dục khác. Điều này sẽ triệt tiêu hoàn toàn động cơ lợi dụng giáo dục để thao túng bất động sản cho các mục đích khác.

Thứ tư là giải thể một trường đại học không giống như đóng cửa một tiệm tạp hóa. Ở đây, sinh viên chính là những người thiệt thòi nhất khi đối diện với nguy cơ ôm những "tín chỉ" mà không được ai công nhận hay không thể học tiếp ở bất kỳ nơi nào. Quyền giải thể của Chủ tịch Hà Nội sẽ được quyết định bằng các tiêu chí khách quan, minh bạch, khoa học như chủ đầu tư vỡ nợ, kết quả kiểm định không đạt hay gian lận, vi phạm ở mức xử lý hình sự. Đồng thời, quyết định giải thể cũng phải yêu cầu nhà trường chi trả cho các hình thức chuyển tiếp để sắp xếp sinh viên sang cơ sở khác tương đương. Trường hợp trường không thể xử lý được thì thành phố cần chi trả cho việc này.

Phân cấp quản lý giáo dục đại học thành công hoàn toàn được quyết định bởi bộ khung pháp lý nâng đỡ nó. Quyền lực nếu không được quản lý khoa học, minh bạch, hiệu quả sẽ làm suy giảm chất lượng học thuật. Và Hà Nội hoàn toàn có thể nắm bắt cơ hội quý giá này để xây dựng một hệ sinh thái giáo dục tinh hoa, thúc đẩy kinh tế xã hội Thủ đô và đất nước bứt phá trong tương lai.

Đã đến lúc chúng ta cần mạnh dạn quyết định và gắn với đó là hai chìa khóa quyết định độc lập của hai cánh cửa cho một tương lai: hành chính đô thị và chất lượng học thuật.