Kết quả thực nghiệm được chia sẻ tại hội thảo “Mạng xã hội và sức khỏe tâm thần của trẻ em, thanh thiếu niên: Một vấn đề cấp thiết cần hành động” diễn ra mới đây tại Hà Nội.

54 giờ rời xa mạng xã hội

Thử thách ngừng sử dụng mạng xã hội trong 54 giờ do nhóm cán bộ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với học sinh, sinh viên thực hiện.

Có 43 người trong độ tuổi từ 15 đến 30 tham gia, gồm học sinh THPT, sinh viên đại học và người mới tốt nghiệp. Đây đều là những người có thói quen sử dụng Facebook hoặc TikTok hàng ngày. Trong thời gian thử thách 54 giờ, những người tham gia cam kết không sử dụng cả hai nền tảng này.

Tuy nhiên, chỉ sang ngày thứ hai, số người vi phạm cam kết đã tăng mạnh. Phần lớn những lần truy cập mạng xã hội trở lại chỉ sau 1-30 phút với những lý do như thói quen, phản xạ. Một số khác quay lại để trả lời tin nhắn, bình luận hoặc xử lý công việc.

Khi không sử dụng mạng xã hội, cảm xúc của người tham gia cũng có sự thay đổi. Phần lớn cho biết cảm thấy khó chịu, bồn chồn hoặc buồn chán, trong khi chỉ một số ít cảm thấy bình thường.

Đáng chú ý, ở nhóm có cảm xúc tiêu cực, mức độ khó chịu có xu hướng tăng theo từng ngày. Ngày đầu tiên, một số người mô tả cảm giác “thiếu thiếu", như thể bị mất đi một phần kết nối. Sang ngày thứ hai, cảm giác nhàm chán xuất hiện rõ hơn, khiến người tham gia phải tìm cách phân tâm khỏi điện thoại.

Theo nhóm nghiên cứu, đây là một thử nghiệm có quy mô nhỏ, không thể dùng để khái quát cho toàn bộ thanh thiếu niên. Tuy nhiên, kết quả phần nào cho thấy mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều người trẻ.

“Trẻ em đang lớn lên trong hai thế giới”

Chia sẻ tại hội thảo, PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho hay mạng xã hội đã trở thành một phần của đời sống. Không gian số mang lại những cơ hội chưa từng có để trẻ học tập, kết nối, sáng tạo và thể hiện bản thân. 

Tuy nhiên, môi trường này cũng đi kèm nhiều nguy cơ như lệ thuộc vào mạng xã hội, bắt nạt trực tuyến, tiếp xúc sớm với thông tin tiêu cực, độc hại hoặc không phù hợp lứa tuổi. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, gây căng thẳng, lo âu, mất ngủ và những biểu hiện tiêu cực khác.

Vì thế, ông Nam cho rằng vấn đề sử dụng mạng xã hội không nên chỉ được nhìn từ góc độ thời lượng sử dụng hay việc có nên cho trẻ tiếp cận các nền tảng này hay không.

“Trẻ em đang lớn lên trong hai thế giới: thế giới thực và thế giới số. Điều quan trọng là phải làm cho cả hai thế giới ấy đều an toàn và trẻ tự bảo vệ được mình trước những rủi ro”, PGS Nam nói.

IMG_1119.JPG
PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bà Lê Anh Lan, chuyên gia giáo dục của UNICEF, cũng cho rằng môi trường số đang trở thành một “cuộc sống thứ hai” của trẻ. Do đó, việc cấm trẻ sử dụng mạng xã hội tuyệt đối không phải giải pháp phù hợp, thậm chí có thể gây phản tác dụng.

Thay vì chỉ tìm cách ngăn trẻ tiếp cận mạng xã hội, bà Lan cho rằng cần kết hợp giữa phòng ngừa rủi ro và thúc đẩy năng lực tự bảo vệ của trẻ. Cụ thể, cần giảm thiểu những nội dung độc hại và các yếu tố có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của trẻ; đồng thời tăng cường sức khỏe tâm thần tích cực và xây dựng “sức đề kháng số” cho trẻ. 

“Mục tiêu cuối cùng không phải là ‘nhốt’ trẻ em ở ngoài thế giới số mà là cùng nhau xây dựng một môi trường số đủ an toàn, lành mạnh để trẻ có thể học tập, kết nối và phát triển tối đa tiềm năng”, bà Lan nhấn mạnh.

IMG_0875.JPG
Bà Lê Anh Lan, chuyên gia giáo dục của UNICEF.

Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trẻ em, cũng cho rằng không nên cấm trẻ sử dụng mạng xã hội. Điều cần hướng tới là tạo điều kiện để trẻ phát triển an toàn thay vì “đóng cánh cửa tiếp cận môi trường số”.

Để làm được điều này, trách nhiệm cần được chia sẻ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, gia đình và nhà trường.

Trong đó, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và thực thi chính sách. Doanh nghiệp công nghệ phải thiết kế các nền tảng an toàn, có khả năng xây dựng những lớp bảo vệ phù hợp với trẻ. Nhà trường trang bị kiến thức và kỹ năng số, trong khi gia đình cần đồng hành, hướng dẫn và giám sát trẻ. Điều quan trọng nhất, theo ông Nam, trẻ phải được trang bị khả năng nhận diện và ứng phó với những rủi ro.