
Hiệp định đối tác xuyên TBD: Chưa kết thúc trong năm nay
LTS: Trưởng đoàn đàm phán Trần Quốc Khánh đã giải thích rằng liên quan đến đề xuất của phía Hoa Kỳ tại Lima (Peru) vào tháng 10 năm ngoái về một qui định riêng cho doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trong khuôn khổ đàm phán Hiệp đinh Thương mại Tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP), ông sẵn sàng lắng nghe, chứ không thẳng thừng "bác bỏ", như báo chí phương Tây giật tít.
"Tôi chỉ nói một cách đơn giản là chúng tôi cho rằng, các qui định của tổ chức thương mại thế giới (WTO), và các qui định trong tương lai của bản thân hiệp định TPP này, đã đảm bảo quá đủ rằng SOEs sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường rồi, và không cần thiết có thêm các qui định riêng", ông Khánh nói.
Ông cho biết thêm, phía Việt Nam đã đề nghị rằng, khi tiếp cận vấn đề SOEs trong TPP, tuyệt đối không được lâm vào một cực khác là phân biệt đối xử với SOEs. "SOEs cũng cần được đối xử công bằng", ông Khánh nói.
Điều ông Thứ trưởng Bộ Công Thương nói hoàn toàn có lý, trong bối cảnh mấy năm trở lại đây, ngay tại Việt Nam bản thân SOEs đã chịu sự "kỳ thị" của dư luận và cộng đồng doanh nghiệp, sau những vụ làm ăn bết bát của không ít tập đoàn kinh tế nhà nước, nổi bật là Vinashin, hay Vinalines, khiến quốc gia phải gánh chịu một món nợ khổng lồ của họ, dẫn theo hệ lụy cho hệ thống ngân hàng, cũng như nhiều doanh nghiệp vô tội khác.
Hơn nữa, bản thân Việt Nam đang có những nỗ lực rất lớn trong việc kiểm soát hoạt động của những "bad boys" này. Chẳng hạn như đề án giám sát tài chính tập đoàn, thậm chí "gài" người vào đó, hay quyết định tăng cường vai trò của ủy ban phòng chống tham nhũng...
Rõ ràng, quan điểm của Việt Nam là "con hư mẹ dạy", chứ không muốn "tổ dân phố" phải "can thiệp vào công việc nội bộ" của gia đình mình.
Tuy nhiên, dường như quan điểm này của phía Việt Nam chưa được các đối tác khác trong TPP chia sẻ. Bằng chứng điển hình là từ vòng đàm phán thứ 11 tại Melbourne (Australia), một qui định riêng đối với SOEs đã bắt đầu được đặt lên bàn đàm phán.
Để rộng đường dư luận, Tuanvietnam xin giới thiệu tiếp cuộc trao đổi của phóng viên Huỳnh Phan với bà Virginia Foote về suy nghĩ và lập luận của các đối tác khác, nhất là Hoa Kỳ, quốc gia đã lần đầu tiên đưa SOEs vào nội dung Hiệp định Tự do Thương mại song phương với Singapore, về vấn đề này.
![]() |
| Trưởng đoàn đàm phán TPP, Thứ trưởng Công Thương Trần Quốc Khánh, nêu quan điểm của mình về doanh nghiệp nhà nước. |
Tôi được biết là cuộc đàm phán về doanh nghiệp nhà nước (SOEs) đã được chính thức bắt đầu từ cuộc đàm phán ở Melbourne (Australia) hồi tháng 3, sau khi Mỹ đưa ra đề xuất này hai vòng trước đó, và phía Việt Nam đã phản đối.
Theo bà, cách đặt vấn đề của Mỹ có thực sự là một cách "phân biệt đối xử" với SOEs, như nhận định của ông trưởng đoàn đàm phán phía Việt Nam, không?
Quan niệm đằng sau một qui định riêng đối với SOEs, như phía Mỹ đề nghị, là một mối lo ngại toàn cầu là SOEs ở khắp nơi đều được hưởng những thuận lợi trong tiếp cận nguồn tín dụng, cũng như những cơ hội kinh doanh trong những ngành nghề mà khu vực tư nhân khó có thể chen chân vào. Đề xuất của phía Mỹ trong chương cạnh tranh về một qui định riêng đối với SOEs là một biện pháp bổ sung để đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng.
Mọi người đều cảm nhận được sự bất bình đẳng này, nhưng tìm kiếm đầy đủ chứng cứ về việc SOEs, chẳng hạn như khả năng tiếp cận những nguồn tín dụng giá rẻ, hay có những nguồn tín dụng chỉ dành riêng cho SOEs, là một điều hết sức khó khăn. Chính vì vậy một qui định giám sát riêng với SOEs là cần thiết để ngăn chặn sự bất bình đẳng đó.
Ngay ở Việt Nam trong hai năm trở lại đây người ta cũng tranh luận về vai trò của SOEs trong nền kinh tế, làm thế nào để quản lý giám sát SOEs, sự hỗ trợ tài chính của chính phủ đối với SOEs là bao nhiêu, những lĩnh vực nào thì SOEs được tham gia... Một điều quan trọng nữa là định nghĩa thế nào là SOEs, tức là nhà nước sở hữu bao nhiêu phần trăm vốn trở lên thì được gọi là SOEs.
Từ khi tôi đến đây, tôi luôn nghe những lời phàn nàn về SOEs, bất kể đó là doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài, bất kể là doanh nghiệp nhỏ, hay doanh nghiệp lớn. Tôi nghĩ SOEs đóng vai trò lớn trong nền kinh tế Việt Nam, nhưng cũng khiến chính phủ phải trả giá nhiều cho chúng. Chẳng hạn, như Vinashin mấy năm trước, hay Vinalines gần đây.

Đây không phải là vấn đề bàn thảo của TPP, bởi Mỹ và các nước khác cũng đều có SOEs cả, và tuỳ từng quốc gia sẽ tự quyết định xem SOEs nên đóng vai trò gì, tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh gì... Nhưng TPP đặt ưu tiên đảm bảo sự công bằng trong kinh doanh.
Theo tôi biết, lời văn mà phía Mỹ dự thảo trong qui định này vẫn đang được các bên tranh luận, và tôi không nghĩ rằng các bên, chứ chẳng riêng gì Việt Nam, có thể sớm thống nhất với nhau.
Liệu khi đưa ra yêu cầu có cơ chế kiểm soát xuất khẩu của SOEs, ngoài những điều bà vừa nêu ra, vẫn có một nguyên nhân quan trọng là Mỹ vẫn liếc sang phía Trung Quốc, nơi có một đội ngũ SOEs hùng hậu, có thông tin nói là lên tới con số 20 ngàn. Trong đó có nhiều SOEs đã trở thành những công ty đa quốc gia.
Các chuyên gia nói rằng với việc đưa ra yêu cầu mạnh mẽ về SOEs trong TPP, nhất là với Việt Nam, Mỹ muốn tạo ra một hình mẫu, một tiền lệ, trước khi đàm phán với Trung Quốc về vấn đề này. Hơn nữa, tham vọng của những người thúc đẩy ý tưởng TPP là tới khoảng 2025 nó sẽ bao trùm cả 21 nền kinh tế APEC.
Tôi nghĩ TPP là một hiệp định thương mại tự do khu vực có qui mô lớn đầu tiên nên những người thúc đẩy nó muốn giải quyết những vấn đề mới đang ảnh hưởng tới thương mại toàn cầu, và SOEs là một trong số đó. Ai cũng phàn nàn về SOEs, bất kể đó là Mỹ, Nhật, hay Việt Nam. Đây chính là lúc phải có cách tiếp cận mới đối với SOEs.
Quay lại giả thiết của anh, cũng không phải nó không có lý. Nhưng hiện giờ là TPP11 thì chúng ta cứ nói đến 11 nước liên quan đã, còn khi nào mở rộng ra thành TPP21, hay FTA-AP (Khu vực thương mại tự do châu Á - Thái Bình Dương) thì tính sau. Chắc gì đến lúc đó, với sự tham gia của Trung Quốc, có những điều không phải đàm phán lại.
Và việc văn bản của chương SMEs được thông qua hồi tháng 5 cũng được coi là một một động thái song hành để bảo đảm sự bình đẳng trong kinh doanh?
Đúng vậy. việc hiệp định TPP có một chương riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), là để những doanh nghiệp kém thế này có thể hưởng lợi từ những thoả thuận thương mại trên toàn cầu, như TPP. Có thể có những trợ giúp kỹ thuật, hay những chương trình giúp cho SMEs có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, bằng cách cung ứng dịch vụ cho các công ty đa quốc gia.
SMEs và SOEs ở Việt Nam dường như cũng có điểm gì đó tương tự như SMEs và các công ty đa quốc gia ở Mỹ, chẳng hạn, về mặt tạo việc làm. Bởi các công ty đa quốc gia ở Mỹ lại chuyển việc ra bên ngoài. Liệu đó có phải là một sức ép quan trọng khiến chính phủ Mỹ quyết tâm thúc đẩy khả năng cạnh tranh của SMEs không?
Ở Mỹ có một mối quan ngại rất lớn về chuyện outsourcing (chuyển việc ra bên ngoài). Thế nhưng, chúng tôi cũng có một hệ thống dịch vụ phát triển rất mạnh ở Mỹ. Vì thế chắc trong một số lĩnh vực sản xuất xu hướng chuyển việc ra nước ngoài vẫn tiếp tục, nhưng trong một số lĩnh vực khác, công việc lại được chuyển về trong nước.
SMEs ở Mỹ có thể tồn tại và phát triển được nếu biết định vị mình trong hệ thống của các công ty đa quốc gia, bằng cách cung cấp một dịch vụ nào đó trong hệ thống cung ứng toàn cầu của các công ty đa quốc gia (MNCs). Hệ thống cung ứng được coi là hết sức phức tạp bất kể là trong ngành may mặc hay sản xuất máy bay.
Còn ở Việt Nam, các doanh nghiệp FDI thích mua các sản phẩm hay linh kiện ở Việt Nam hơn là nhập khẩu từ nước khác để xuất khẩu hàng hoá cuối cùng. Bất kể đó là doanh nghiệp FDI, SOEs, hay một doanh nghiệp tư nhân lớn hơn, SMEs đều có thể trở thành nhà cung ứng. Đó cũng là cách các SMEs tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
(Còn tiếp)
Huỳnh Phan
