Các nhà kinh tế giỏi thường là những người kể chuyện tuyệt vời. Họ có những bài tường thuật với những chi tiết minh họa qua loa và những bảng biểu dày đặc. Giống như một cuốn tiểu thuyết. Một dự báo kinh tế tốt thường có hành động và các nhân vật, và rốt cục là giúp bạn có một cảm nhận tốt hơn chút ít về thế giới.

Trừ phi tất cả hóa ra là sai bét

Hãy xem câu chuyện có ảnh hưởng lớn mà các nhà dự báo kinh tế kể cho các bạn trong nhiều năm qua: Nền kinh tế Mỹ không gặp may. Nhiều lần nó đã sẵn sàng để nhanh chóng quay trở lại mức tăng trưởng mà sẽ tái giành lại mọi vị trí đã mất trong thời kỳ Đại Suy thoái, trong khi tạo ra nhiều thành tích lớn về việc làm. Nhưng mỗi lần như vậy, một sự kiện nào đó từ bên ngoài lại làm hỏng mọi việc. Cuộc khủng hoảng đồng Euro bùng nổ. Một cơn sóng thần ở Nhật Bản phá vỡ các chuỗi cung ứng toàn cầu. Các nhà hoạch định chính sách chật vật với trần hạn nợ liên bang.

Gần đây nhất, "vực thẳm tài khóa", thuế má tăng cao và cắt giảm ngân sách đóng vai trò là thủ phạm. Và nền kinh tế "vận rủi" đó chưa bao giờ đạt tới tiềm năng hết cỡ.

Giờ đây, hãy xem xét khả năng mà câu chuyện không thể-gặp-cơ may đang khiến nền kinh tế Mỹ tụt lùi. Điều gì xảy ra nếu nền kinh tế không đen đủi đến như vậy? Điều gì nếu như nó, về cơ bản, sẽ thực hiện được những gì chúng ta kỳ vọng? Điều gì nếu có yếu tố nào đó đã thay đổi, nhờ thoát khỏi suy thoái, hoặc một loạt các lựa chọn chính sách tồi, hoặc cả hai, và tăng trưởng dịch chuyển xuống một con số thấp hơn? Điều gì nếu như sự mở rộng chậm chạp và yếu ớt này tốt đẹp như chúng ta muốn đạt được trong một khoảng thời gian?

Đây là một câu chuyện khác mà các nhà kinh tế khắp quang phổ hệ tư tưởng vừa mới khám phá. Nếu đúng, các hàm ý đối với chính sách kinh tế là rất lớn.

Thứ nhất, hãy cùng xem lại một số thực tế. Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,2% năm ngoái, 1,8% trong năm trước đó, và 2,4% trong năm 2010. Mức tăng trưởng này không đủ để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp một cách nhanh chóng, và đó là lý do - ba năm rưỡi sau khi suy thoái chính thức chấm dứt - 12 triệu người Mỹ vẫn đang vật lộn kiếm việc làm.

Tăng trưởng cũng luôn không được như kỳ vọng của những người dự đoán. Chẳng hạn, vào cuối năm 2009, các kinh tế gia của Cục Dữ trữ liên bang (Fed) dự đoán kinh tế sẽ tăng 2,5% lên 3,5% trong năm 2010. Năm 2011, họ cho rằng tăng trưởng sẽ ở mức 3,4-4,5%; năm 2012, họ đưa ra con số 3,5-4,8%. Nhưng mỗi năm, tăng trưởng thực tế đều thấp hơn. Và mỗi năm, Fed lại điều chỉnh và dự đoán rằng tăng trưởng nhanh hơn sắp diễn ra. Nêu ra các chi  tiết này không phải là để bóc mẽ đội ngũ của Chủ tịch Ben S. Bernanke - các nhà kinh tế thường lạc quan quá mức tại Văn phòng Ngân sách Quốc hội và ở một số bộ phận nghiên cứu Phố Wall.

Vậy điểm phân rẽ các câu chuyện của chúng ta là nguyên nhân khiến các dự đoán đó sai bét.

Dưới đây là lời giải thích chuẩn mực, từ một nhà kinh tế nhạy bén tên là David E. Altig, Phó Chủ tịch Điều hành và là Giám đốc Nghiên cứu tại Ngân hàng Dự trữ liên bang Atlanta. Altig cho rằng, kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn nếu một loạt các yếu tố bất ngờ - đáng chú ý nhất là cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu và các ví dụ phổ biến về chính sách tài khóa "bên miệng hố chiến tranh" ở Washington - không xuất hiện để gây lo lắng cho người tiêu dùng và các nhà quản trị doanh nghiệp.

Đây là cách thức nhiều nhà kinh tế của Fed và của CBO nhìn nhận trong vài năm qua, và tại sao họ vẫn lạc quan đến như vậy rằng tăng trưởng nhanh hơn sắp xảy đến. (CBO dự đoán kinh tế sẽ tăng trưởng 3,5% năm tới, Fed dự đoán từ 3 đến 3,5%). Lịch sử đã giải thích cách nghĩ của họ: Trong các cuộc suy thoái trước, kinh tế tụt giảm và tăng tốc trong những năm sau đó để quay lại xu hướng tăng trưởng lịch sử của nó. Điều này tựa như một người đi xe đạp đang đạp hết tốc lực để bắt kịp các vận động viên sau khi bị văng mất lốp xe trên đường đua.

"Đó vẫn là câu chuyện của những cú sốc đen đủi" và của mức tăng trưởng phục hồi để bù cho những gì đã mất, ông Altig nhận xét và nói thêm: "Chúng ta vẫn tiếp tục hy vọng với dự đoán của mình". 

{keywords}
Phố Wall - trung tâm tài chính của Mỹ
"Nỗi phiền muộn mới"

Để biết về mặt ảm đạm của câu chuyện, hãy gặp gỡ Kevin Warsh, cựu Thống đốc Fed và cố vấn kinh tế cho Tổng thống Geore W. Bush.

Warsh hiện nay đang thỉnh giảng tại Viện Hoover của trường Đại học Stanford, nơi ông vừa phát triển một giả thuyết bi quan về nền kinh tế. Ông gọi nó là "Nỗi Phiền muộn mới".

Chuyện là: Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cố gắng trong nhiều năm để đổ thêm dầu vào chảo lửa tăng trưởng với hy vọng làm bùng lên một ngọn lửa lớn. Họ đã ném vào đó 800 tỷ USD lấy từ tiền cắt giảm thuế và tăng chi tiêu trong dự luật kích thích kinh tế năm 2009, cùng với những biện pháp khác thường mà Fed đã thực hiện trong một nỗ lực tạo công ăn việc làm; giữ lãi suất ngắn hạn sát số 0 trong nhiều năm và mua một lượng lớn chứng khoán dài hạn như trái phiếu Kho bạc Mỹ nhằm đẩy lãi suất dài hạn xuống thấp. Câu chuyện của Warsh là những nỗ lực đó không hề mang lại hiệu quả, thậm chí còn khiến cho mọi vấn đề tồi tệ thêm. Chúng hủy hoại các triển vọng tăng trưởng dài hạn hơn của nền kinh tế.

"Tư duy thông thường là nền kinh tế Mỹ sẽ gặp nhiều vận đen vào thời điểm này", ông nhận xét. "Quan điểm của tôi đơn giản hơn. Những vết nứt tồi tệ này xảy ra khi nền kinh tế toàn cầu yếu kém và không hiệu quả, và các thị trường tài chính chịu ảnh hưởng nặng nề từ các quyết sách của chính phủ. Điều này lại tạo ra vận đen".

Nguyên nhân khiến nền kinh tế toàn cầu kém hiệu quả, theo ông Warsh, là các nhà hoạch định chính sách phản ứng kém với khủng hoảng tài chính. Họ chỉ tập trung kích thích tăng trưởng ngắn hạn mà bỏ qua các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế cơ bản. Họ không mở ra các thị trường mới cho thương mại quốc tế để mở rộng xuất khẩu, và họ không khơi thông thuế khóa để thúc đẩy đầu tư.

Cũng theo Warsh, trong khi đó, các nhà lập pháp lại bổ sung nhiều quy định mới vào hệ thống tài chính để củng cố độc quyền nhóm trong ngành ngân hàng khiến cho dòng tín dụng chạy vào các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế. Các chính sách nới lỏng tiền tệ của Fed đã tạo thuận lợi cho các lợi ích nhóm chứ không chảy "nhỏ giọt" - theo lời của ông - xuống những người Mỹ bình thường.

Tăng trưởng chậm chạp là hệ quả của những chính sách đó, Warsh khẳng định. Ông cho rằng, hệ quả của giảm tăng trưởng triền miên là một sự tụt dốc trong tiềm năng phát triển của nền kinh tế. Người lao động thất nghiệp quá lâu sẽ đánh mất các kỹ năng, khiến cho họ càng khó tìm việc làm hơn. Các nhà đầu tư mất lòng tin vào khả năng mở rộng của nền kinh tế và từ bỏ ý định đầu tư. "Chúng ta đã rơi vào một thời kỳ muộn phiền mới lâu đến mức mà người lao động và các công ty đều bớt dần kỳ vọng vào những gì nền kinh tế Mỹ có thể làm được", ông Warsh bình luận thêm.

Trong trường hợp đó thì câu chuyện giống như là một cầu thủ ném bóng vừa đi phẫu thuật cánh tay, và thay vì ném bóng với tốc độ 152km/h thì anh ta chỉ đạt 135 km/h. Warsh cho rằng, áp dụng các chính sách dài kỳ, tốt hơn là cách duy nhất lấy lại được vận tốc đó - một kiểu phẫu thuật lần 2.

Warsh thừa nhận, không có nhiều dữ liệu để chứng minh cho giả thuyết của ông. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một số bằng chứng cho thấy sự xói mòn các kỹ năng lao động ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp. Các nhà kinh tế chỉ vừa mới bắt đầu đánh giá những tác động của suy giảm lòng tin, hoặc "sự bất ổn chính sách" đối với tăng trưởng. Về vấn đề này, Warsh muốn trích dẫn một trong những bậc thầy của ông, nhà kinh tế thị trường tự do vĩ đại Milton Friedman: "Milton từng nói: Mọi thứ chúng ta biết về kinh tế học thì chúng ta dạy ở Econ 1, và mọi thứ khác chỉ là thêm vào mà thôi".

Thanh Hảo (theo Washington Post)