Tiền mất, đất chẳng thấy đâu
Theo trình bày của bà V. (ngụ TPHCM), năm 2003, bà nhận chuyển nhượng theo thỏa thuận góp vốn một nền đất có diện tích 111m2 tại dự án do Công ty M triển khai với giá hơn 366 triệu đồng.
Bà V. đã thanh toán hơn 253 triệu đồng, tương đương khoảng 69% giá trị hợp đồng. Tuy nhiên, đến năm 2005, lãnh đạo Công ty M bị khởi tố trong vụ án hình sự liên quan đến dự án, khiến quá trình triển khai bị đình trệ.
Sau đó, UBND TPHCM thu hồi khu đất và giao Tổng công ty D tiếp tục thực hiện dự án theo quy hoạch mới là khu chung cư phục vụ tái định cư.
Cho rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng, bà V. khởi kiện yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và buộc Tổng công ty D bồi thường theo giá trị thị trường của nền đất tương ứng với phần tiền đã thanh toán.

Về phía Tổng công ty D, đại diện doanh nghiệp cho rằng đơn vị này không kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty M trong các giao dịch mua bán nền đất trước đây, mà chỉ được Nhà nước giao tiếp nhận dự án để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà tái định cư.
Theo đại diện Tổng công ty D, việc dự án bị thu hồi và thay đổi quy hoạch là sự kiện bất khả kháng; trách nhiệm của doanh nghiệp chỉ dừng ở việc hoàn trả số tiền góp vốn theo chủ trương của UBND TPHCM, không phải bồi thường thiệt hại theo giá thị trường. Đồng thời, đại diện doanh nghiệp cũng cho rằng giao dịch ban đầu không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm đó.
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND Khu vực 7 - TPHCM nhận định yêu cầu của bà V. là có căn cứ. Tòa sơ thẩm tuyên hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V. và Công ty M, đồng thời buộc Tổng công ty D thanh toán cho bà V. số tiền hơn 6,2 tỷ đồng. Nếu chậm thi hành án, doanh nghiệp còn phải chịu lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Tiếp nhận dự án phải kế thừa nghĩa vụ bồi thường
Không đồng ý với phán quyết trên, Tổng công ty D kháng cáo. Đại diện doanh nghiệp cho rằng việc định giá tài sản thiếu cơ sở pháp lý, cấp sơ thẩm đánh giá sai bản chất chứng cứ và vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND TPHCM nhận định các phiếu thu và chứng từ chuyển khoản thể hiện rõ Công ty M đã nhận của bà V. hơn 253 triệu đồng, tương đương 69% giá trị nền đất. Mặc dù các bên không lập hợp đồng bằng văn bản, nhưng các tài liệu này đủ căn cứ xác định giữa hai bên đã tồn tại giao dịch góp vốn nhằm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tòa phúc thẩm cũng xác định, sau khi UBND TPHCM thu hồi dự án và giao Tổng công ty D tiếp tục làm chủ đầu tư, doanh nghiệp này đã tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư cũ theo các quyết định và biên bản bàn giao của cơ quan có thẩm quyền.
Vì vậy, Tổng công ty D phải kế thừa trách nhiệm giải quyết hậu quả phát sinh từ dự án, bao gồm nghĩa vụ bồi thường cho người đã góp vốn mua nền đất.
Đối với lập luận của Tổng công ty D cho rằng vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện, việc định giá tài sản không đúng quy định và doanh nghiệp không phải là chủ thể kế thừa nghĩa vụ của Công ty M, tòa phúc thẩm nhận định các quan điểm này đều không có căn cứ.
Hội đồng xét xử cho rằng lỗi dẫn đến việc hợp đồng không thể thực hiện thuộc về chủ đầu tư dự án. Hiện khu đất đã được chuyển sang xây dựng nhà ở xã hội nên không còn nền đất để giao cho khách hàng.
Do đó, việc cấp sơ thẩm buộc Tổng công ty D bồi thường theo giá trị thị trường của nền đất trên cơ sở kết quả thẩm định giá là phù hợp với quy định của pháp luật. Do Tổng công ty D không xuất trình được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án, tòa phúc thẩm quyết định bác kháng cáo và giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.
(Tham khảo Bản án số 308/2026/DS-PT ngày 10/2/2026 của TAND TPHCM)