Chuẩn đầu ra tiếng Anh thành rào cản

ĐH Quốc gia TPHCM cho biết có bốn nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp trễ hạn: Chưa hoàn thành chương trình học; chưa đạt chuẩn đầu ra ngoại ngữ; yếu tố tâm lý và khó khăn tài chính.

Dữ liệu thống kê cho thấy, chuẩn đầu ra tiếng Anh là rào cản lớn nhất tại hầu hết các trường thành viên ĐH Quốc gia TPHCM: 54% sinh viên tại Trường ĐH Công nghệ Thông tin, 49% tại Trường ĐH Khoa học Sức khỏe, 23% tại Trường ĐH An Giang và khoảng 35% tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên chưa đạt chuẩn tiếng Anh theo lộ trình.

Thực tiễn này cho thấy, để nâng tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn, hệ thống giáo dục đại học cần có một công cụ chuẩn hóa, trong đó chuẩn ngoại ngữ bậc 3/6 (CEFR-B1) là ví dụ điển hình.

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035” yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học xây dựng môi trường học thuật song ngữ và sử dụng công cụ đánh giá năng lực tiếng Anh chuẩn hóa, tin cậy, phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Đối với hệ thống ĐH Quốc gia TPHCM, yêu cầu này càng trở nên cấp bách khi chuẩn ngoại ngữ đang là điểm nghẽn ảnh hưởng đến tiến độ tốt nghiệp đúng hạn. Vì vậy, chuẩn hóa công cụ đánh giá năng lực tiếng Anh và triển khai thống nhất trên toàn ĐH Quốc gia TPHCM là điều kiện tiên quyết để tháo gỡ điểm nghẽn này, đồng thời đáp ứng định hướng của Chính phủ về phát triển tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai.

Bài thi VNU-EPT

Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo đã xây dựng bài thi VNU-EPT (Vietnam National University - HCM English Proficiency Test) nhằm kiểm tra năng lực tiếng Anh cho sinh viên trong hệ thống ĐH Quốc gia TPHCM.

Sinh viên bách khoa.jpg
Nữ sinh tốt nghiệp Trường ĐH Bách khoa TPHCM. Ảnh: BK

VNU-EPT được thiết kế theo mô hình đa cấp, đa điểm, bao gồm bốn kỹ năng Nghe - Đọc - Viết - Nói, với thời lượng 180 phút, bám sát khung CEFR. 

Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, ĐH Quốc gia TPHCM cho hay, phân tích dữ liệu 802 thí sinh dự thi từ hai lần trở lên cho thấy độ khó các đề trong ngân hàng VNU-EPT tương đồng, bảo đảm khả năng đánh giá ổn định và chính xác. Các câu hỏi cũng được đánh giá thường xuyên về độ khó và khả năng phân loại thí sinh, qua đó liên tục hiệu chỉnh và nâng cao chất lượng đề thi.

Ngoài ra, VNU-EPT còn thể hiện rõ tính tiệm cận chuẩn mực quốc tế thông qua việc đối sánh dữ liệu của 1.484 thí sinh từng tham gia các kỳ thi quốc tế như IELTS, TOEFL iBT, TOEFL ITP, TOEIC với mức chuyển đổi điểm thi VNU-EPT tương đương. 

VNU-EPT áp dụng phương thức thi kết hợp giấy và máy tính, cho phép tổ chức trong một buổi thi với quy mô khoảng 300-700 thí sinh. Lệ phí dự thi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam và có tính phân loại cao, tương đương với các bài thi quốc gia và quốc tế hiện hành như TOEFL, IELTS, TOEIC, FCE, VSTEP.

Đến ngày 31/3/2025, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo đã tổ chức 312 kỳ thi cho 71.607 thí sinh thuộc 59 đơn vị trong và ngoài ĐH Quốc gia TPHCM. Từ khi triển khai đến nay, VNU-EPT đã được sử dụng cho hơn 70.000 thí sinh để xếp lớp, đánh giá quá trình, xét chuẩn đầu ra, tuyển sinh sau đại học và đánh giá tuyển dụng. Riêng các kỳ thi phục vụ xét chuẩn đầu ra ghi nhận 42.166 lượt dự thi, trong đó có 28.399 lượt đạt mức B1 trở lên, tương đương 67,4%.

Lộ trình triển khai giai đoạn 2026 - 2030

Năm 2026, ĐH Quốc gia TPHCM dự kiến ban hành văn bản chính thức đưa “Chứng nhận VNU-EPT” vào quy chế đào tạo bậc đại học và sau đại học, khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ hiện nay. Đồng thời, ĐH Quốc gia TPHCM công bố chuẩn ngưỡng CEFR theo nhóm ngành cùng bảng quy đổi tương đương với các bài thi quốc tế, tổ chức thi định kỳ hàng tháng nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên và cao điểm, hỗ trợ quản trị dữ liệu tập trung.

Giai đoạn 2027-2028, dữ liệu VNU-EPT được tích hợp vào hệ thống quản lý đào tạo để cảnh báo sớm sinh viên “cận chuẩn”, đồng thời tinh chỉnh các mốc điểm theo dữ liệu đối sánh cập nhật.

Giai đoạn 2029-2030, hệ thống được củng cố theo hướng bền vững thông qua kiểm định thường xuyên chất lượng đề thi và liên thông dữ liệu đánh giá với hoạt động bảo đảm chất lượng ở cấp chương trình.

Theo Trung tâm, các phân tích khoa học và dữ liệu thực tiễn cho thấy VNU-EPT là công cụ đánh giá tiếng Anh chuẩn hóa, tin cậy, tương thích quốc tế và có khả năng triển khai quy mô lớn. Trọng tâm hiện nay không nằm ở năng lực của công cụ mà ở sự thống nhất chính sách và phạm vi công nhận giữa các trường thành viên. Khi ĐH Quốc gia TPHCM áp dụng thống nhất VNU-EPT trong toàn hệ thống, nguồn dữ liệu tập trung và có khả năng đối sánh sẽ được hình thành, phục vụ cải tiến chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo và quản trị tiến độ tốt nghiệp. Trung tâm cho rằng việc chuẩn hóa đánh giá năng lực tiếng Anh bằng VNU-EPT là giải pháp phù hợp, khả thi và tác động trực tiếp đến mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn giai đoạn 2026-2030.