
Báo cáo đánh giá tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA (VEFTA) vừa được nhóm chuyên gia nghiên cứu của Đại học Ngoại thương công bố chiều 26/12 tại Hà Nội.

Bà Vũ Thị Phương Mai, đại diện nhóm chuyên gia nghiên cứu cho biết, VEFTA là hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và khối EFTA (gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein), nhằm mục tiêu tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và tăng cường hợp tác kinh tế. VEFTA được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp cận các nước thu nhập cao, tiêu chuẩn cao, đa dạng hóa thị trường, giảm rủi ro khi “gửi quá nhiều trứng vào một giỏ”.
Năm 2012, Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu chính thức khởi động đàm phán VEFTA. Từ 2012-2018, hai bên tiến hành nhiều vòng đàm phán, tập trung vào các nội dung cốt lõi của hiệp định như thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ và thuận lợi hóa thương mại.
Năm 2023, tiến trình đàm phán được tái khởi động, mở rộng thảo luận sang các lĩnh vực phù hợp với FTA thế hệ mới như dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững.
Tháng 9/2025, vòng đàm phán thứ 17 được tổ chức tại Geneve (Thụy Sĩ). Tháng 11/2025, vòng đàm phán thứ 18 diễn ra tại Đà Nẵng (Việt Nam), ghi nhận nhiều tiến triển kỹ thuật. Dự kiến quý 1/2026, hai bên sẽ tiếp tục các vòng đàm phán tiếp theo nhằm hoàn thiện Hiệp định.
Theo các chuyên gia, VEFTA có nhiều tác động đối với Việt Nam.
Một là tác động tới đầu tư và chuỗi giá trị. VEFTA thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ cả EFTA và các nước ngoài khối, tận dụng ưu đãi để xuất khẩu sang EFTA.
Hai là tác động đến pháp luật và sở hữu trí tuệ, tăng tính minh bạch và bảo đảm pháp lý. VEFTA giúp cải thiện môi trường đầu tư nhờ các cam kết rõ ràng về minh bạch, bảo hộ nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ.
"3 nhóm cam kết chính gồm: Thuận lợi hóa đầu tư, công khai thông tin, xúc tiến đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật, tập trung vào ngành công nghệ cao; Tự do hóa đầu tư, gỡ rào cản tiếp cận thị trường, áp dụng nguyên tắc NT/MFN, mở rộng đầu tư vào dịch vụ; Bảo hộ đầu tư, bảo vệ khỏi quốc hữu hóa, tăng tiêu chuẩn sở hữu trí tuệ, cân bằng giữa bảo hộ và đổi mới sáng tạo", bà Mai thông tin thêm.
Ba là tác động đến phát triển bền vững. Ở khía cạnh tích cực, VEFTA góp phần thúc đẩy các cam kết về phát triển bền vững; Tăng hợp tác đầu tư xanh và chuyển giao công nghệ từ các nước EFTA; Góp phần giảm nghèo, giảm bất bình đẳng thông qua tăng trưởng kinh tế và hội nhập tiêu chuẩn cao; Thúc đẩy cải cách pháp luật và thể chế về lao động, môi trường.
Tuy nhiên, việc tham gia hiệp định này cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp trong nước như: Phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật, đặc biệt về lao động và công đoàn; Đầu tư thể chế, nguồn lực để triển khai cam kết về biến đổi khí hậu, kinh tế xanh - tuần hoàn; Đảm bảo thực thi hiệu quả cam kết để duy trì niềm tin của các đối tác và thu hút đầu tư bền vững từ EFTA và Liên minh châu Âu (EU).
Các chuyên gia lưu ý, để có thể khai thác, phát huy hiệu quả VEFTA, doanh nghiệp Việt cần chủ động nâng cao năng lực hội nhập thông qua các hoạt động như: Chủ động tìm hiểu quy tắc xuất xứ, thị trường EFTA, các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm; Chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về nguồn lực, gồm công nghệ, truy xuất nguồn gốc, bao bì bền vững, năng lực sản xuất sạch…
"Đặc biệt, doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng thương hiệu, gắn với ESG, truyền thông thương hiệu phù hợp thị hiếu châu Âu. Đồng thời cũng phải đa dạng kênh phân phối, kết hợp kênh truyền thống và số hóa (tham gia các sàn thương mại điện tử, sàn quốc tế) để gia tăng hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường quốc tế", bà Mai khuyến nghị.
Nhóm chuyên gia cũng đã nêu rõ một số kiến nghị đối với các nhóm ngành hàng. Cụ thể, ngành dệt may và da giày cần tự chủ nguyên liệu, hiểu rõ quy tắc xuất xứ, tăng xúc tiến thương mại tại Thụy Sĩ, Na Uy; thu hút FDI, xây dựng thương hiệu nội địa chất lượng cao.
Ngành điện tử nên phát triển công nghiệp phụ trợ, liên kết doanh nghiệp FDI và nội địa, ứng dụng đổi mới sáng tạo, công nghiệp 4.0. Ngành dược phẩm phải bám sát quy định sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn dược châu Âu, khai thác thế mạnh y dược Việt. Ngành nông lâm ngư nghiệp nên đầu tư sản xuất hữu cơ, thân thiện môi trường, liên kết vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận.


