
Tuy nhiên, theo bác sĩ chuyên khoa, nếu dùng không đúng cách hoặc lạm dụng, riềng có thể gây tác dụng ngược, đặc biệt với một số nhóm người.
Trao đổi với PV VietNamNet, bác sĩ Bùi Thanh Hoài, Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) cho biết, riềng có tên khoa học là Alpinia officinarum Hance, còn được gọi là cao lương khương, tiểu lương khương, phong khương hay galanga.
Theo các tài liệu y học cổ truyền, riềng có vị cay, tính ôn, quy vào hai kinh tỳ và vị. Dược liệu này có tác dụng ôn trung tán hàn, giảm đau, giúp tiêu thực, thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn tiêu hóa do lạnh.

Trong thực tế, củ riềng được dùng cả trong Đông y và Tây y như một vị thuốc kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng. Riềng còn được dân gian sử dụng để hỗ trợ điều trị các chứng đầy hơi, đau bụng, đau dạ dày, nôn mửa, đi lỏng, trúng hàn, thậm chí sốt rét, sốt nóng. Một số nơi còn dùng riềng nhai trực tiếp để giảm đau răng.
Liều dùng thông thường của riềng là 3-6g/ngày, dùng dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hoặc rượu thuốc, tùy theo mục đích điều trị.
Một số bài thuốc cổ
Theo bác sĩ Hoài, y học cổ truyền ghi nhận nhiều bài thuốc có sử dụng riềng:
Chữa đau bụng, nôn mửa: Riềng 8g, đại táo 1 quả, sắc với 300ml nước, đun còn 100ml, chia uống 2-3 lần trong ngày.
Chữa sốt, sốt rét, kém ăn: Riềng tẩm dầu vừng sao 40g, can khương nướng 40g. Hai vị tán nhỏ, trộn với mật lợn, vo viên cỡ hạt ngô. Mỗi ngày uống 15-20 viên.
Ngoài ra, có nơi còn phối hợp riềng với các vị thuốc khác để chữa đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa, lỵ thậm chí dùng cùng than tóc rối trong một số bài thuốc dân gian chữa ngộ độc thịt cóc. Tuy nhiên, các bài thuốc này cần được sử dụng thận trọng và có tư vấn của thầy thuốc.
4 nhóm người cần đặc biệt lưu ý khi dùng riềng
Dù có nhiều lợi ích, riềng không phù hợp với tất cả mọi người. Bác sĩ Hoài khuyến cáo, một số nhóm người sau cần thận trọng:
Người bị nóng trong, nhiệt miệng, táo bón: Riềng có tính nhiệt, nếu dùng nhiều dễ gây nóng rát cổ họng, khô miệng, nhiệt miệng, làm tình trạng táo bón nặng hơn. Do đó, những người bị nóng trong, nhiệt miệng, táo bón chỉ nên dùng rất ít, không sử dụng kéo dài.
Người viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày nặng: Tính cay của riềng có thể kích thích niêm mạc dạ dày, gây đau thượng vị, ợ nóng, khó chịu. Vì thế người bị viêm loét, trào ngược dạ dày nặng nếu sử dụng, chỉ nên ăn riềng đã nấu chín với lượng nhỏ, tránh dùng riềng sống hoặc riềng ngâm.
Người mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp: Riềng có tác dụng làm tăng tuần hoàn và sinh nhiệt. Dùng nhiều có thể gây hồi hộp, nóng bừng, làm tăng cảm giác khó chịu. Những nhóm người này cũng không nên dùng riềng như một bài thuốc thường xuyên.
Phụ nữ mang thai: Riềng có tính kích thích, dùng nhiều dễ gây nóng trong, buồn nôn, không tốt nếu sử dụng với mục đích làm thuốc. Thai phụ chỉ nên dùng riềng làm gia vị với lượng rất nhỏ, tuyệt đối không uống nước riềng hay sắc riềng để uống.


