Trong câu chuyện dài về những trận đánh dọc đường biên, vào sâu nội địa đất bạn săn bắt thú độc buôn bán ma túy, còn nhiều câu chuyện khác, như một mối lương duyên gắn kết những người lính biên phòng Việt Nam với người dân, cán bộ công an nước bạn Lào.

Các kì trước:

Bí mật chuyên án bắt Xiêng Phênh

Kỳ án "ước mơ đuổi gà" nặng 39 heroin

Bí mật quây bắt "cá voi 5000 tấn" trên biển Đông

Quây bắt "cá voi" trên biển Đông

Trinh sát ngoại biên

Chốt tiền tiêu

Bản Thoọng Pẹ (tên tiếng Anh là Thoong Pei - NV) thuộc huyện Khăm Cợt, tỉnh Bô-ly-khăm-xay, nước CHDCND Lào, nằm cách đường biên giới Việt-Lào 15km. Nơi đây là điểm dân cư cuối cùng trước khi vào địa phận khu vực cửa khẩu Nậm Phao phía Lào.

Những ngôi nhà sàn ở bản Thoọng Pẹ nằm trên những ngọn đồi thấp, gần với đường quốc lộ 8A. Người dân tộc Mông chiếm hơn 70% dân số trong bản. Đứng trên ngọn đồi cao nhìn xuống đường 8A, thấy bản Thoọng Pẹ chia đôi nằm men dọc đường, kéo mãi vào tận sâu trong núi.

Câu chuyện Thoọng Pẹ của trước năm 2002 là trồng cây thuốc phiện và đi rừng làm gỗ. Đến mùa, hoa anh túc nở bạt ngàn, trắng cả núi rừng. Người dân không biết trồng lúa, dù đất đai rộng rãi, màu mỡ. Người dân không biết trồng rừng, làm kinh tế. Nguồn thu nhập duy nhất là trồng cây thuốc phiện, bán đi với giá rất rẻ. Cũng vì vậy, ở Thoọng Pẹ người nghiện rất nhiều.

{keywords}

Trạm xá Thoong Pe: Trạm y tế quân dân y kết hợp ở bản Thoọng Pẹ là nơi màu áo xanh biên phòng Việt Nam đặt dấu ấn sâu đậm vào tâm trí người dân nơi đây. Sau cuộc “đánh bạc” y sĩ biên phòng Việt Nam chữa lành bệnh cho con gái thầy mo nhiều năm trước, người dân Thoọng Pẹ dần bỏ được hủ tục cúng ma trừ tà khi bị bệnh và trạm xá này được chính bộ đội biên phòng Việt Nam giúp đỡ xây dựng.

  Năm 1993, đồn trưởng đồn biên phòng Cầu Treo là ông Nguyễn Đình Tiến đã thâm nhập được vào Thoọng Pẹ, với dự án làm đập nước giúp người dân ở đây. Đó cũng là kết quả đặt dấu ấn bộ đội biên phòng Việt Nam trong trí nhớ mờ nhạt của người dân Thoọng Pẹ.

Trước đó nữa, người Mông ở Thoọng Pẹ sống ở trong rừng sâu với nhiều tập tục lạc hậu. Cứ đến mỗi bữa ăn thì nhà nào cũng có một bát to nước lã đặt giữa mâm để chan ăn với cơm, thay... canh. Khi ốm đau, họ cũng không bao giờ biết đến viên thuốc mà chỉ lo đi rước thầy cúng về nhà đuổi “con ma” giải bệnh.

Thoọng Pẹ vào thời gian này cây thuốc phiện được người dân trồng rất nhiều. Có cảm giác như là Thoọng Pẹ nhỏ bé bị chìm lấp trong bạt ngàn hoa thuốc phiện khi vào mùa. Thời điểm đó, cả bản có 60 ha thuốc phiện, vào mùa nở rực sườn đồi.

Năm 1981, được sự giúp đỡ của Chính phủ Lào và Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh, bản Thoọng Pẹ được thành lập và chuyển về sống ở vùng đồi núi thấp sát với đường 8A. Mặc dù, được chuyển về nơi ở mới và có thêm nghề trồng lúa nhưng cuộc sống của người dân vẫn hết sức khó khăn.

Năm 2002, Võ Trọng Hải về Cầu Treo. Nhiều lần sang giao ban với biên phòng nước bạn, câu chuyện bản Thoọng Pẹ đêm đêm sáng ánh đèn bàn, thơm lừng khói thuốc phiện khiến Hải băn khoăn nghĩ cách tìm đường ra. Chỉ nằm cách đường biên 2 nước 15km, ma túy ăn sâu vào thói quen sinh hoạt của người dân, thì sớm hay muộn nếu không dẹp được bàn đèn, nơi đây sẽ trở thành điểm tập kết ma túy sát biên, trước khi vào Việt Nam qua đường rừng.

Đầu năm 2002, nhận lệnh của Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, Hải đem 15 quân sang Thoọng Pẹ. Những ngày đầu, cả bản cắm lá xanh không tiếp khách. Hải chỉ còn nước nhờ người bạn Vừ A Dinh trước cùng đi lính dẫn mối vào gặp trưởng bản Vừ Nỏ Văn. Những ngày đầu, người dân Thoọng Pẹ ngờ vực ngồi bó gối trước cửa nhà sàn ngó mấy anh bộ đội Việt Nam hỳ hục cải tạo cánh đồng Na Pê là sân bay cũ thành một cánh đồng lúa nước. Mùa lúa đầu tiên, thóc chín vàng, thu hoạch xong thì… phát hết cho dân.

Để có thể nói chuyện được với dân, cá khô và nước mắm, những thực phẩm người Mông ở Thoọng Pẹ thích nhất, cũng là món quà quý đối với người dân miền núi, được Hải chở cả xe ô tô sang phát. Kẹo cu đơ, một thứ kẹo ngọt nấu từ mật mía và lạc, cũng được Hải chở sang làm quà. Quà kẹo cu đơ mỗi lần chở sang, cũng là cả… xe ô tô.

Dân có thể cởi mở rồi, Hải bắt đầu thuyết phục dân bỏ trồng cây thuốc phiện. Dân hỏi lại: “Không trồng cây thuốc phiện, vậy lấy gì mà cho vào miệng?”. Vậy là, Hải lại phải loay hoay vận dụng các mối quen biết, nhờ một Việt kiều Thái Lan tên Tấn tư vấn. Anh Tấn cho 1 tấn gừng giống, Hải đem về giao cho già làng, trưởng bản đem trồng, với điều kiện thu hoạch xong thì phải phát cho dân.

Chỉ một năm sau, cả bản Thoọng Pẹ lấy cây gừng làm nguồn sống. Từ gừng, cả bản giàu lên trông thấy. Có gia đình mỗi năm thu hoạch tới… 10 tấn gừng. Khi hoa gừng đã có thể thay màu hoa anh túc, đầu năm 2003, Hải đã tự tin về báo cáo với Bộ Chỉ huy: “Đã thanh toán xong cây thuốc phiện ở Thoọng Pẹ”.

Năm 2013, chúng tôi lại có dịp đứng trên ngọn đồi cao nhìn xuống, thấy trẻ con ở Thoọng Pẹ đang vui vầy đến trường. Trạm y tế quân dân y kết hợp ở Thoọng Pẹ bây giờ đã có y sỹ mới. 4 năm trước, cái trạm y tế nằm trơ trọi giữa cái nắng nóng khô ran khi Lào vào mùa hè, nay đã được phủ xanh bóng mát cây trồng. Nhiều năm trước, bộ đội biên phòng Hà Tĩnh đã hỗ trợ các bản Na Pê, Thoọng Pẹ 110 triệu đồng xây dựng công trình nước sạch, làm đường giao thông nông thôn.

{keywords}

Trẻ em ở bản Thoọng Pẹ hôm nay đã có thể vui đến trường, nghĩa là một thế hệ tương lai đã mở qua nhiều cố gắng sau nhiều năm của bộ đội biên phòng Việt Nam. Giờ nhiều gia đình ở bản đã có thể mua ô tô, máy cày, máy nông nghiệp nhờ kinh tế trồng rừng, làm trang trại, làm lúa, trồng cây gió trầm, gừng và đào ao thả cá giống.

Năm 2007, trạm xá tại bản Thoọng Pẹ được Bộ chỉ huy BĐBP Hà Tĩnh, UBND tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ xây dựng giá 700 triệu đồng, sau đó được đầu tư thêm nhiều lần nữa để nâng cấp, biến nơi đây thành địa điểm được người dân địa phương gửi gắm niềm tin khi ốm đau, bệnh tật, không còn phải lệ thuộc vào thầy cúng trừ ma theo tập tục cũ nữa. Đến nay, nhiều gia đình ở bản đã mua được ô tô, máy cày và các phương tiện sinh hoạt khác. Kinh tế của bản bây giờ là làm nương, làm lúa nước, trồng gừng, trồng 2.500 cây tràm gió và đào ao nuôi cá giống.

Giờ đây, lòng dân Thoọng Pẹ tin bộ đội biên phòng Việt Nam “nói được, làm được”, nên bản đã như đã là một chốt tiền tiêu ngoài biên cương, ngăn mọi loại thú độc tìm cách xâm nhập qua biên giới.

Khiên chắn biên cương

Trong câu chuyện sôi nổi thường gặp khi kể về những trận đánh án, Võ Trọng Hải tự hào khi nói rằng điều Hải mừng nhất là tất cả cán bộ, chiến sỹ đều đảm bảo được an toàn về người và vũ khí sau mỗi trận đánh. “Có những chuyên án, mình phải thức trắng vài ba đêm liền để tính toán phương án. Tội phạm tuyến biên giới cực kỳ manh động, đặc biệt là tội phạm ma túy luôn dùng vũ khí nóng, chỉ một chi tiết phối hợp sai giữa các lực lượng là tổn thất ngay”, thượng tá Hải chia sẻ.

25 năm quân ngũ, từ lính lên tới cấp chỉ huy, từ trạm trưởng trạm kiểm soát cửa khẩu Cầu Treo đến nay là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biên phòng Hà Tĩnh, Võ Trọng Hải đã giữ gìn được sự an toàn tuyệt đối cho lính dưới quyền bằng cái sự cẩn trọng theo nguyên tắc đó.

Năm 2011, đang theo học trường sỹ quan tại Đà Lạt, Hải được triệu hồi. Người dân công giáo xã Kỳ Lợi (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) tổ chức phong tỏa làng, bắt giữ cán bộ huyện lẫn công an huyện, cán bộ tỉnh đội để phản đối dự án Formusa ảnh hưởng tới quyền lợi kinh tế của họ. Sự việc nóng tới đỉnh điểm, 4.700 dân ngừng mọi công việc, chia thành 5 vòng vây phong tỏa làng, đóng cửa với mọi thương thuyết của chính quyền.

{keywords}

Thượng tá Võ Trọng Hải, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biên phòng Hà Tĩnh, người vẫn được biết tới như một “sát thủ” đối với giới buôn ma túy qua đường 8A vào Việt Nam. Trong 5 năm, trực tiếp thượng tá Hải chỉ huy 100 chuyên án, bắt 115 đối tượng buôn bán ma túy qua ngã cửa khẩu Cầu Treo và trên đất bạn Lào.

“Mình với anh Thường (Đại tá Nguyễn Trọng Thường, nguyên Chỉ huy trưởng BĐBP Hà Tĩnh) đi một xe vào, dân chặn lại, đòi bắt. Mình xuống xe, nói với dân: Bộ đội là con em của nhân dân, bà con bắt bộ đội thì khác gì bắt con em của mình. Tôi vào đây vì đã có hẹn với cha xứ”, thượng tá Hải kể.

Trước đó, hàng loạt cuộc liên lạc khác đã được Võ Trọng Hải thực hiện. Khi gọi cho cha xứ, cha không đảm bảo về an ninh. Hải tìm cách liên lạc với đức cha cấp trên. Khi vào được rồi, thấy vòng vây của dân rẽ ra, Hải mới điềm đạm phân tích với ban hành giáo: “Mọi dự án có thể ảnh hưởng lợi hoặc hại, cái đó còn phải xem xét nhiều khía cạnh. Nhưng các cha để thế này, trẻ con thì không được đi học, 4.700 dân bỏ công ăn việc làm, thì ảnh hưởng tới bát cơm của họ. Chẳng lẽ các cha đành lòng nhìn dân bị đói?”.

Các cha nghe xong thì đồng ý, trả lời luôn: “nếu bộ đội biên phòng đã nói thế này, thì giáo dân sẵn sàng giang rộng tay đón chính quyền vào đối thoại”. BĐBP Hà Tĩnh lại là nhịp cầu nối, để sau đó 6 cán bộ của UBND tỉnh Hà Tĩnh vào được Kỳ Lợi, kết thúc một điểm nóng trong nhẹ nhàng, mà trước đó đã rất căng thẳng.

Thượng tá Võ Trọng Hải không ngần ngại nhận xét rằng trong công tác dân vận liên quan tới tôn giáo, “nhiều lúc cán bộ của mình không hiểu, cái cần nhất là phải chân tình. Chương trình “Mái ấm biên cương” của lực lượng biên phòng, riêng ở Hà Tĩnh, cứ nhà dân dột nát, khó khăn trên tuyến biên giới là tôi cho xây lại hết, không phân biệt lương hay giáo. Xây 100 căn mới hoàn toàn, mời bà con vào ở. Vào nhà thờ lúc nào tôi cũng chào rất thành tâm. Mình làm như vậy, các cha đã biết từ lâu, nên khi biên phòng đứng ra làm cầu nối, các cha mới tin”, thượng tá Hải bật mí.

Cái sự chân tâm đó, là cách thuyết phục tốt nhất đối với dân. Tháng 8/2007, lũ về, đường 8A từ đỉnh Keo Nưa về xuôi bị cắt đứt, cô lập trạm kiểm soát biên phòng cửa khẩu Cầu Treo, hơn 300 hành khách kẹt lại suốt nhiều ngày. Hết lương thực, khách có tiền cũng không mua được thức ăn, Võ Trọng Hải lúc bấy giờ đang là đại úy, trạm trưởng cái trạm kiểm soát biên phòng nằm cheo leo trên đỉnh Keo Nưa ra lệnh mở kho gạo dự trữ, nấu cơm nuôi dân, chờ ngày thông đường.

Hết thực phẩm, Hải lọ mọ đội mưa sang bàn với hải quan, lôi 2 con lợn tăng gia còn lại trong chuồng mổ nốt, mời dân miễn phí. Trời mưa như trút, sương mù mờ mịt, hình ảnh màu áo xanh biên phòng, hải quan lúi húi làm thịt lợn nấu cơm mời dân ăn qua ngày, khiến không ít hành khách lỡ đường mắc kẹt trên đỉnh Keo Nưa bật khóc thời điểm đó, khi bưng bát cơm ấm tình quân dân lên miệng.

Ngày thông đường về xuôi, chúng tôi chứng kiến những hành khách bịn rịn bước chân lên xe, rồi lại chạy xuống ôm chặt lấy những người lính biên phòng, khóe mắt rưng rưng, không nỡ rời xa.

Từng ngày, từng tháng, từng năm, từng việc làm cụ thể thay cho lời nói của màu áo xanh biên phòng, mỗi người dân vùng biên giới Việt - Lào đã tin, mỗi hành khách qua đường đã tin, khiến vùng biên cương càng thêm vững chắc trong lòng dân, thì các chuyên án ngày càng được mở rộng bán kính phòng ngự.

Trường Minh – Duy Tuấn