Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa có công văn số 2205 trả lời phản ánh, kiến nghị của công dân trên Hệ thống thông tin tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của Bộ Tư pháp.

Người dân cho rằng, không có căn cứ xác định khi nào được coi là cơ quan có thẩm quyền biết về việc vi phạm. Bởi theo Nghị định 123/2024 quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 2 năm. 

Tuy nhiên, đối với hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp không phải đất lúa hoặc từ đất lúa sang đất ở, thời hiệu được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm. Tức thời hiệu ban hành quyết định xử phạt hành chính được tính từ thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hoặc biết về hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, không xin phép này.

Người dân nêu trường hợp cụ thể. Một hộ gia đình tự ý xây nhà trên đất vườn hoặc san lấp ao làm nhà ở từ năm 1994. Trong sổ mục kê năm 1987, thửa đất được xác định là đất ao, đất vườn.

Tuy nhiên, đến bản đồ địa chính năm 1998 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là đất ở. Năm 2008, loại đất này tiếp tục được ghi nhận là đất ở trên hồ sơ địa chính nhưng không có quyết định xử phạt vi phạm hành chính nào được ban hành.

Đến năm 2026, khi làm sổ đỏ, người dân kê khai việc tự ý chuyển mục đích sử dụng từ đất ao, đất vườn sang đất ở từ năm 1994.

Người dân đặt câu hỏi: Thời hiệu xử phạt được tính từ năm 1998 - thời điểm bản đồ địa chính được phê duyệt và cơ quan nhà nước có thể đã biết hiện trạng sử dụng đất - hay được tính từ thời điểm nộp hồ sơ xin cấp sổ đỏ?

Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thời điểm đó có sự tham gia của UBND cấp xã, UBND cấp huyện, cán bộ địa chính xã và chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường, địa chính nhà đất huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh, Sở Địa chính và Nhà đất cấp tỉnh đều được biết thông tin đó. 

Như vậy, liệu có được tính việc phê duyệt mảnh đất từ đất ao, vườn trước kia thành đất ở là thời điểm người có thẩm quyền biết về việc vi phạm này hay không? Trong trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính 2 năm theo quy định trên, thì người dân có bị xử phạt vi phạm hành chính? Có bị buộc phải nộp lại số số lợi bất hợp pháp hay không?

W-so do dat dai vietnamnet.jpg
Ảnh minh hoạ: Hồng Khanh

Trả lời nội dung công dân cho rằng không có căn cứ xác định khi nào được coi là cơ quan có thẩm quyền biết về việc vi phạm, Cục Quản lý đất đai dẫn quy định của Luật Đất đai 2024. 

Cụ thể, khoản 18 Điều 20 Mục 2 Chương II Luật Đất đai 2024 quy định về nội dung quản lý Nhà nước về đất đai trong đó có việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

“Do đó, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai là việc làm thường xuyên của công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi... của cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền được phân công. 

Khi phát hiện hành vi vi phạm thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 123/2024 của Chính phủ và đây cũng chính là căn cứ xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm”, Cục Quản lý đất đai nêu rõ.

Đối với trường hợp cụ thể được người dân nêu, Cục dẫn quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024. 

Từ quy định trên, cơ quan quản lý đất đai khẳng định: Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt đối với trường hợp này là thời điểm người dân đi làm sổ đỏ, kê khai việc tự ý chuyển mục đích từ đất ao, đất vườn lên làm đất ở đối với trường hợp cơ quan nhà nước phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính.

Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 123/2024 của Chính phủ quy định về thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. 

Cụ thể, đối với các hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đã kết thúc thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với các hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này là hành vi đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.