Trả lời vấn đề này, Bộ Xây dựng cho biết, điều kiện để được mua nhà ở xã hội hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Trong đó, người mua phải thuộc nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, đồng thời đáp ứng các điều kiện về nhà ở và thu nhập theo quy định.

Theo Bộ Xây dựng, Điều 76 và Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 có quy định về đối tượng và điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội.

Liên quan đến tiêu chí xác định “chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình”, Bộ dẫn quy định tại Điều 32 Nghị định số 54/2026 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 29 Nghị định số 100/2024.

W-nha o xa hoi vietnamnet 1.jpg
Người dân kiểm tra hồ sơ mua nhà ở xã hội tại Hà Nội. Ảnh: Hồng Khanh 

Theo quy định này, một người được xác định là chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ) tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận được đề nghị xác nhận điều kiện nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội sẽ thực hiện xác nhận theo quy định.

“Trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi đối tượng và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội”, Bộ Xây dựng nêu rõ.

Như vậy, việc đứng tên quyền sử dụng đất chưa đồng nghĩa với việc đã có nhà ở. Trường hợp giấy chứng nhận chỉ ghi nhận quyền sử dụng đất mà không có thông tin về nhà ở hoặc tài sản gắn liền với đất thì vẫn có thể được xem xét thuộc diện chưa có nhà ở, nếu đáp ứng các điều kiện khác theo quy định.