Tổng tiền gửi của khách hàng tại 30 ngân hàng thương mại trong nước đến ngày 30/6/2026 đạt khoảng 16,02 triệu tỷ đồng, trong khi tổng dư nợ cho vay lên tới 17,04 triệu tỷ đồng, cao hơn khoảng 1,02 triệu tỷ đồng.
Số liệu này cho thấy tại nhiều ngân hàng, dư nợ cho vay đang vượt quy mô tiền gửi khách hàng.
Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025; huy động vốn tăng 5,75%. Việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động có thể gây áp lực lên khả năng cân đối vốn của các ngân hàng, từ đó tác động đến thanh khoản và lãi suất.
Trong câu chuyện chênh lệch cán cân huy động - cho vay tại các ngân hàng, theo thống kê của VietNamNet đối với 30 ngân hàng thương mại trong nước, có tới 19 ngân hàng ghi nhận dư nợ cho vay tại ngày 30/6 cao hơn so với tiền gửi của khách hàng.
Đáng chú ý, mức chênh lệch lớn nhất lại diễn ra tại các ngân hàng lớn, như VPBank, MB, VietinBank, ACB, Techcombank, VIB, thậm chí cả với ngân hàng đang dẫn đầu hệ thống về tiền gửi khách hàng là BIDV.
Cụ thể, mức chênh lệch tại VPBank lên đến 309.000 tỷ đồng, MB 194.000 tỷ đồng, BIDV 179.000 tỷ đồng, VietinBank 156.000 tỷ đồng, ACB 135.000 tỷ đồng, Techcombank 113.530 tỷ đồng, VIB 73.000 tỷ đồng và OCB 50.000 tỷ đồng.
Ngược lại, Agribank là ngân hàng có mức chênh lệch huy động cao hơn dư nợ cho vay lớn nhất hệ thống, lên đến hơn 239.000 tỷ đồng.
Tiếp đến là HDBank 55.000 tỷ đồng, Sacombank 46.000 tỷ đồng, PVcomBank 41.000 tỷ đồng, Vietcombank 24.500 tỷ đồng.
Các ngân hàng còn lại ghi nhận huy động nhiều hơn cho vay gồm: BaoViet Bank hơn 13.000 tỷ đồng, NCB 13.000 tỷ đồng, Viet A Bank 9.000 tỷ đồng, ABBank 8.600 tỷ đồng, Saigonbank 3.800 tỷ đồng, cuối cùng là PGBank 2.000 tỷ đồng.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn đang gây áp lực lên cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng; lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng vì thế có thời điểm vượt ngưỡng 10%/năm.
Với một đồng vốn huy động được, ngân hàng không thể cho vay cả một đồng mà phải trích dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ tùy thuộc vào từng kỳ hạn tiền gửi. Do vậy, để có thể đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, nhiều ngân hàng đã phải giải cơn khát vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi...
Điển hình như Agribank mới đây đã công bố phát hành trái phiếu ra công chúng với tổng mệnh giá lên đến 15.000 tỷ đồng.
Để “bình dân hóa” loại hình đầu tư này, Agribank phát hành trái phiếu có mệnh giá từ 100.000 đồng, kỳ hạn 10 năm và nhận lãi 1 năm/lần.
Ngân hàng cho biết, trái phiếu được tính lãi suất thả nổi, được tính bằng lãi suất tham chiếu (bình quân lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân bằng VND, kỳ hạn 12 tháng, trả lãi cuối kỳ được niêm yết của 4 ngân hàng BIDV, Vietinbank, Agribank, Vietcombank tại ngày xác định lãi suất) cộng biên độ 2%/năm và 2,5%/năm áp dụng trong 5 năm cuối của kỳ hạn.
Với mức lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng đang được niêm yết, lãi suất trái phiếu Agribank lên đến 7,9%/năm, đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
Trước đó, Nam A Bank công bố hoàn tất phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng sau hai đợt phát hành, kỳ hạn 7 năm. Lãi suất trái phiếu áp dụng cho kỳ xác định lãi suất đầu tiên (từ ngày 28/5/2026 cho đến nhưng không bao gồm ngày 28/5/2027) là 8,7%/năm.
| HUY ĐỘNG VÀ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG ĐẾN 30/6/2026 (ĐVT: Triệu đồng) | ||||
| STT | NGÂN HÀNG | HUY ĐỘNG | CHO VAY | HUY ĐỘNG - CHO VAY |
| 1 | VPBANK | 731.724.834 | 1.040.464.602 | -308.739.768 |
| 2 | MB | 963.918.620 | 1.157.766.761 | -193.848.141 |
| 3 | BIDV | 2.236.660.752 | 2.415.773.701 | -179.112.949 |
| 4 | VIETINBANK | 1.885.818.687 | 2.041.621.677 | -155.802.990 |
| 5 | ACB | 578.947.846 | 714.131.013 | -135.183.167 |
| 6 | TECHCOMBANK | 670.763.751 | 784.301.102 | -113.537.351 |
| 7 | VIB | 319.190.882 | 392.020.433 | -72.829.551 |
| 8 | LPBANK | 353.513.314 | 424.148.666 | -70.635.352 |
| 9 | OCB | 160.167.694 | 215.783.068 | -55.615.374 |
| 10 | SEABANK | 200.521.989 | 250.063.019 | -49.541.030 |
| 11 | TPBANK | 289.378.311 | 332.085.929 | -42.707.618 |
| 12 | SHB | 618.883.497 | 636.616.518 | -17.733.021 |
| 13 | MSB | 204.670.369 | 221.606.094 | -16.935.725 |
| 14 | NAM A BANK | 200.624.949 | 216.588.702 | -15.963.753 |
| 15 | EXIMBANK | 170.884.753 | 186.192.645 | -15.307.892 |
| 16 | VIETBANK | 104.114.529 | 118.400.699 | -14.286.170 |
| 17 | BAC A BANK | 120.284.030 | 134.143.196 | -13.859.166 |
| 18 | KIENLONG BANK | 74.139.192 | 76.323.340 | -2.184.148 |
| 19 | BVBANK | 81.453.005 | 82.214.489 | -761.484 |
| 20 | PGBANK | 49.715.876 | 47.740.104 | 1.975.772 |
| 21 | SAIGONBANK | 25.819.353 | 21.976.093 | 3.843.260 |
| 22 | ABBANK | 142.256.010 | 133.607.979 | 8.648.031 |
| 23 | VIET A BANK | 104.132.127 | 95.022.551 | 9.109.576 |
| 24 | NCB | 144.686.463 | 131.904.880 | 12.781.583 |
| 25 | BAOVIET BANK | 76.895.420 | 63.770.404 | 13.125.016 |
| 26 | VIETCOMBANK | 1.730.069.294 | 1.705.571.763 | 24.497.531 |
| 27 | PVCOMBANK | 199.791.144 | 158.795.058 | 40.996.086 |
| 28 | SACOMBANK | 641.512.579 | 595.102.889 | 46.409.690 |
| 29 | HDBANK | 674.491.210 | 619.614.526 | 54.876.684 |
| 30 | AGRIBANK | 2.267.874.237 | 2.028.664.040 | 239.210.197 |
| 16.022.904.717 | 17.042.015.941 | -1.019.111.224 | ||