
Bác sĩ Bùi Thanh Hoài, Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) cho biết, đậu xanh còn gọi là lục đậu (tên khoa học Vigna radiata), thuộc họ đậu. Theo các tài liệu dinh dưỡng, trong hạt đậu xanh có trung bình 13,7% nước, 23% protit (protein), 2,4% lipit (chất béo), 52% gluxit (chất bột đường) và 4,6% xenluloza (chất xơ).
Mỗi 100g đậu xanh cung cấp khoảng 329 kcal năng lượng, 62,7mg canxi, 369,5mg phốt pho, 4,7mg sắt cùng một lượng nhỏ caroten. Ngoài ra, loại hạt này còn chứa nhiều vitamin nhóm B như B1, B2, PP và vitamin C, góp phần hỗ trợ quá trình chuyển hóa và tăng cường sức khỏe tổng thể.
Bác sĩ Hoài cho biết, trong dân gian Việt Nam, ngoài công dụng làm thực phẩm, cả hạt và vỏ đậu xanh đều được dùng làm thuốc.
Trong Nam dược thần hiệu của danh y Tuệ Tĩnh và Bản thảo cương mục của nhà y dược học Lý Thời Trân đều nhắc đến công dụng của loại hạt này. Theo Lý Thời Trân, vỏ đậu xanh có vị ngọt, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc và cải thiện tình trạng mờ mắt.
Toàn bộ hạt đậu xanh có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu tích nhiệt, giải độc, hỗ trợ cơ thể đào thải các chất độc từ thuốc hoặc kim loại nặng. Trong ẩm thực, đậu xanh thường được nấu thành các món cháo, canh hoặc chè để thanh nhiệt, giảm phù nề, hạ khí và giải độc.

Ngoài tác dụng thanh nhiệt, đậu xanh còn hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Một số bài thuốc dân gian dùng cháo đậu xanh ăn hằng ngày để hỗ trợ người mắc đái tháo đường ổn định lượng đường trong máu.
Nhờ hàm lượng chất xơ cao, đậu xanh giúp cải thiện nhu động ruột, hạn chế táo bón và hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột.
Đặc biệt, các khoáng chất như kali, magie cùng chất chống oxy hóa trong đậu xanh có thể giúp giảm cholesterol xấu, góp phần bảo vệ tim mạch.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, người có thể trạng hư hàn, thường xuyên lạnh bụng, tiêu chảy hoặc chân tay lạnh nên hạn chế đậu xanh có tính mát, dễ làm tình trạng nặng hơn. Ngoài ra, người đang bị rối loạn tiêu hóa, đầy hơi hoặc tiêu chảy cũng không nên ăn nhiều đậu xanh.


