Mối quan hệ "hữu cơ" giữa người dân Cao Bồ và Công ty Hùng Cường được ông giám đốc Nguyễn Thanh Hùng diễn đạt một cách hết sức đơn giản: "Một gói thuốc lào, hay đôi pin, đối với chúng ta chẳng đáng là bao, nhưng khi chúng tôi tặng vẫn khiến bà con cảm động. Bà con cần nhất sự đối xử chân tình, có trước có sau."

>> Vị giám đốc và lời "thách thức" 200 ngàn đô

>> Quỹ Thách thức Việt Nam: Món tiền nhỏ - Ý nghĩa lớn

Phóng viên VTV1 Lê Anh Ngọc đã bật cười khi nghe câu này.

"Bác cả tin quá", Ngọc nói với ông Hùng.

Người phóng viên đã từng làm nhiều phóng sự về chè ở Phú Thọ, Tuyên Quang, hay Yên Bái, kể lại rằng anh nghe nhiều vụ "lật kèo" của người bán chè  tươi, khi có thương lái khác trả giá cao hơn.

Tuy không hoài nghi ở mức độ như vậy, người viết bài này vẫn thấy băn khoăn. Để rồi trong suốt và cả sau chuyến đi vẫn cố gắng xác minh tính xác tín trong câu nói của ông Hùng.

Và rất may, cuối cùng Quản đốc nhà máy chè Cao Bồ Nguyễn Anh Dũng, người vẫn hàng ngày phải trực tiếp làm việc với người dân Cao Bồ, đã giải đáp hộ thắc mắc đó, qua một cuộc trò chuyện bằng điện thoại.


Phóng viên VTV1 Lê Anh Ngọc nhìn ông Nguyễn Thanh Hùng đầy "nghi ngờ"

Chinh phục trái tim người Dao

"Người Dao nói chung sống thật. Họ rất sợ người Kinh nhiều mánh khóe. Cho nên muốn họ quý mình trước hết phải thật thà, và phải ăn ở, sinh hoạt cùng với họ, nói chung là phải hòa đồng với họ", Dũng nói.

Dũng kể, từ cuối năm 2010, khi bắt đầu dự án ngày nào anh cũng phải đi xuống các thôn bản, để để giải thích cái lợi khi tham gia làm chè hữu cơ cho bà con. Hầu như tôi nào anh cũng ngủ lại ở một thôn bản nào đó.

"Vì ban ngày, bà con đi lên đồi, lên nương, nên chỉ có buổi tối mới nhờ trưởng thôn tập trung bà con lại cho mình vận động, trình bày. Xong việc thì đã khuya rồi, nhiều thôn bản lại xa nhà máy nữa", Dũng giải thích.

Khi bà con đã thông rồi, đến giai đoạn triển khai hướng dẫn kỹ thuật, anh hàng ngày lại phải lên tận nương chè để kiểm tra, giám sát xem họ có thực hiện đúng không.

Dũng bảo nhà anh ở xã Việt Lâm, cách Cao Bồ có khoảng 27 cây số, nhưng mỗi tuần anh chỉ tranh thủ tạt được về nhà được có nửa buổi, rồi lại tất tả phóng xe quay trở lại nhà máy. Cô con gái thứ hai, năm nay mới được ba tuổi, nhiều hôm cứ ôm cứng lấy cổ bố, nước mắt giàn giụa.

"Nhìn cảnh đó, đá mấy lần vợ tôi đã khuyên tôi nên xin chuyển công ty, hay ít nhất là xin quay lại nhà máy chè Việt Lâm, nơi tôi làm quản đốc trước khi được cử sang Cao Bồ. Nhiều khi cũng thấy phân tâm, nhưng rồi nghĩ lại, thấy lãnh đạo công ty họ tín nhiệm mình, giao trọng trách cho mình, bỏ đi sao được", Dũng khẽ thở dài.

Dũng kể rằng Giám đốc Hùng điều anh xuống triển khai dự án mới ở Cao Bồ, chỉ vì anh là người trẻ nhất trong đội ngũ lãnh đạo cấp nhà máy (Dũng sinh năm 1971.).

"Ông Hùng hy vọng ở sự năng nổ của tôi, nhưng không biết rằng thời gian làm chè ở Việt Lâm tôi đã có mấy năm kinh nghiệm làm ăn, sinh họat với người Dao ở đó. Tôi còn biết nói tiếng Dao trong sinh họat hàng ngày nữa", Dũng "bật mí" về một trong những lý do khiến dự án Cao Bồ thành công bước đầu.

Cái kinh nghiệm của Dũng ở Việt Lâm là từ thời nhà máy chè Việt Lâm vẫn thuộc Công ty Chè và cà phê Việt Lâm, một doanh nghiệp nhà nước, trước khi Hùng Cường mua lại vào năm 2004. Hồi đó, anh hay phải đi thu mua chè Shan của đồng bào Dao ở Quảng Ngần, một xã cũng thuộc huyện Vị Xuyên như Việt Lâm và Cao Bồ. Anh cũng được giao làm quản đốc nhà máy chè Thượng Sơn của Công ty Việt Lâm, cũng chế biến chè Shan của người Dao như nhà máy Cao Bồ, trong khoảng thời gian 2 năm.

"Do phải cạnh tranh mua với với những công ty khác, rồi tư thương, nên tôi phải tìm cách chiếm được tình cảm của người Dao, bằng cách tìm hiểu phong tục, tập quán của họ, rồi học tiếng nói của họ", Dũng kể.

Theo Dũng, một trong những điều quan trọng khi bước chân vào nhà sàn của người Dao là phải tháo giày dép, để ở chân cầu thang, và múc nước từ cái chum bên cạnh để rửa sạch chân. Có như vậy, họ mới cho là mình tôn trọng họ.

"Người Kinh mình, nhiều khi được mời ăn món gì, thường hay nhận xét, hoặc kể rằng chỗ chúng tôi người ta nấu thế nọ, thế kia. Nhưng người Dao chỉ quý vị khách nào mà khi đến nhà họ có cái gì thì cứ lẳng lặng mà ăn nhiệt tình cái đó", Dũng nói thêm.

Cũng nhờ kinh nghiệm với người Dao mà Dũng đã đề xuất với công ty Hùng Cường thuyết phục các trưởng thôn làm đại lý thu mua chè tươi của người dân ở các bản xa. Bởi những trưởng thôn, nhiều người còn khá trẻ, do dân bầu lên, có tiếng nói rất lớn với họ.

"Trong số 11 trạm thu mua ở các thôn bản xa, thì có tới 8 cái là do 8 trưởng thôn nắm. Vì nhận được tiền công theo sản phẩm là 1,5% trên tổng số tiền thu mua chè, nên họ rất có trách nhiệm trong việc đôn đốc và hướng dẫn người dân thu hái đúng kỹ thuật", Dũng nói.

Chính các trưởng thôn cũng hứa với Dũng là nếu nhà máy Cao Bồ thu mua ít nhất bằng giá thị trường, thì họ đảm bảo sẽ thuyết phục được các hộ bán cho nhà máy. Nhưng nếu có người trả giá cao hơn thì họ không dám chắc điều đó.

"Bây giờ có chứng chỉ hữu cơ rồi, chè Cao Bồ sản xuất ra bán giá lên gấp đôi, gấp ba, so với trước, giá thu mua cũng tăng lên, tôi tin rằng khó có doanh nghiệp, hay tư thương trong nước nào có thể mua tranh được với chúng tôi. Các máy mini, chuyên làm chè vàng trong các thôn bản, bây giờ đắp chiếu hết rồi", Dũng nói.

Nhưng khi người viết hỏi, nếu thương lái Trung Quốc lại ào vào như hồi cuối 2007, đầu 2008, để chuẩn bị cho nhu cầu bùng nổ nhân sự kiện Olympics Bắc Kinh, như người viết đã được nghe người dân Cao Bồ kể lại, Dũng tự nhiên lặng đi, dễ đến 1-2 phút.

Thế rồi ,anh buồn buồn kể lại chuyện công ty Hùng Cường đã khốn khổ như thế nào trong trận "càn quét" đó. Thương lái Trung Quốc, thông qua các chủ máy mini lên tận trên nương mua chè, và thuê luôn họ sơ chế thành chè vàng - nguyên liệu dung để làm chè Phổ Nhĩ.

"Giá một cân chè tươi, bất kể là  loại 1 tôm 3 lá, 4 lá hay 5 lá, tự nhiên vọt lên gấp 2-3 lần. Để đảm bảo hợp đồng đã ký, chúng tôi vẫn phải mua một số lượng nhất định với cái giá đó, dù biết sản xuất là lỗ", Dũng than vãn, và lo lắng rằng không biết sắp tới liệu bên Trung Quốc có sự kiện trọng đại nào không.


Ông Nguyễn Thanh Hùng ngỏ lời nhờ nhờ các tổ chức tài chính quốc tế cứu giúp

Nỗi lo thiếu vốn

Quản đốc Dũng đã lo như vậy, ông giám đốc Hùng lại càng lo hơn. Nhưng cái lo của ông lại nằm ở khía cạnh khác.

Ông bảo ông không sợ thương lái Trung Quốc cạnh tranh về giá. Không có chứng chỉ hữu cơ, họ khó mà bán giá cao được, nên chắc sẽ tìm cách thu mua chè ở những vùng khác, ngoài Cao Bồ.

"Hơn nữa, người dân ở đây cũng thấy sợ kiểu làm ăn của người Trung Quốc rồi, khi chỉ rmua ào ào lên dăm ba tháng, rồi tự nhiên không mua nữa. Người dân không biết bán cho ai, hoặc bị ép giá", ông nói.

Anh nông dân Bàn Văn Thỉnh, người đã kể cho người viết về "trận càn" của thương lại Trung Quốc cách đây hơn 4 năm, cũng khẳng định điều này.

"Người Trung Quốc nhiều mưu kế lắm, không chơi được đâu. Chúng tôi chỉ mong công ty Hùng Cường bán được chè hữu cơ giá cao, và từ đó nâng giá thu mua của chúng tôi lên theo thôi", anh Thỉnh nói.

Ông Hùng biết về nguyện vọng của người dân, và nhận thức rằng đó chính là một điểm mấu chốt trong quan hệ "hữu cơ" mà ông đang xây dựng với người dân trồng chè ở Cao Bồ. Nhưng ông sợ điều đó sẽ nằm ngoài sức với của ông.

"Tôi chỉ sợ khi không có tiền thu mua chè của dân, thương lái Trung Quốc sẽ vào mua hết, rồi tha hồ ép giá, đời sống họ lại bấp bênh trở lại. Như vậy, hóa ra mình lừa dân à?", ông lắc đầu, ngán ngẩm.

Ông giải thích rằng, muốn cho 5 nhà máy, kể cả ở Cao Bồ, họat động đúng công suất, ông cần chừng 30 tỷ vốn lưu động, để mua chè của người dân. Nhưng hiện giờ ông đã thế chấp hết tài sản, từ nhà máy đến khu văn phòng, khách sạn, mà chỉ vay được có 10 tỷ đồng.

"Tôi mới đầu tư dây chuyền trị giá 2 triệu USD mà vẫn chưa dám khởi động, vì còn phải dồn vốn vào dự án chè hữu cơ Cao Bồ. Không thể để cái đà đi lên này bị chững lại giữa chừng. Mất mặt với các nhà tài trợ, các đối tác, và nhất là với người dân lắm", ông nói.

Ông giải thích rằng trong nhiều năm qua, giá trị tài sản mà ông thế chấp để vay vốn đã tăng lên gấp nhiều lần do đầu tư của ông, cũng như giá thị trường, nhưng ngân hàng nông nghiệp ở đây vẫn không chịu định giá lại để nâng trần vay cho ông.

"Tôi đã liên hệ thử, qua người quen, với một ngân hàng ở Hà Nội. Qua định giá sơ sơ, họ nói sẵn sàng cho tôi vay khoảng 50 tỷ", ông Hùng tiết lộ.

Nhưng, theo ông, mối quan hệ đã thành thân quen với ngân hàng nông nghiệp xưa nay, và có thể qua đó là cả mối quan hệ với chính quyền địa phương, khiến ông cảm thấy ngần ngại khi nói thẳng điều này với họ. Ông cứ đành hy vọng vào lời hứa sẽ trình cấp trên xem xét việc định giá lại tài sản của họ.

"Câu chuyện bây giờ là của nhà nước, nếu họ cũng thấy đây là một mô hình phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo hiệu quả, như các tổ chức quốc tế đã nhìn nhận. Đó là còn chưa nói tới tác dụng kép của việc phát triển cây chè, bởi trồng chè là trồng rừng, chống được xói mòn, sụt lở...", ông Hùng bỏ lửng ở đó.

Đoạn, ông nhấp một ngụm trà Phổ Nhĩ, rồi ngước lên nhìn ông cán bộ ADB Đào Việt Dũng khá chăm chú, rồi chậm rãi nói: "Liệu anh có thể liên hệ với tổ chức quốc tế nào đó cho tôi vay tiền được không? Tôi vay bằng đô, bán chè đi rồi trà lại bằng đô."

Người viết tự nhiên có cảm nhận rằng dường như bao nhiêu hy vọng của ông Hùng gửi gắm hết trong ánh mắt đó.

Huỳnh Phan