Sau lần trở lại thứ ba từ quên lãng chính trị vào năm 1977, Đặng Tiểu Bình đã có một loạt chuyến đi khắp khu vực để củng cố quan điểm của mình.
Cơ sở Ngoại thương Bảo An tọa lạc tại một ngôi làng được đặt theo tên con sông gần đó, làng Shumchun. Sau đó nó trở nên nổi tiếng với một cái tên khác: Thâm Quyến. Đó là nơi đã thu hút sự chú ý của Đặng Tiểu Bình ít nhất từ Hội nghị Công tác Trung ương 1978 (ngay trước kỳ đại hội lần thứ 3), khi ông thoáng có ý tưởng rằng đảng nên "tạo điều kiện cho một số khu vực hoạt động hiệu quả hơn và trở nên thịnh vượng hơn".
Đặng Tiểu Bình tính toán rằng chỉ cần 5% cả nước và 5% người dân trở nên "tương đối giàu có", điều đó cũng có nghĩa là khoảng 100 hạt và 40 triệu dân - tương đương với một quốc gia quy mô trung bình và có thể là một chất xúc tác mạnh mẽ cho thay đổi. Thâm Quyến đứng đầu trong danh sách 19 khu vực được hướng đến trước tiên. "Rõ ràng ông ấy đã chú ý đến nơi đây ngay từ rất sớm", cựu trợ lý của ông, Vũ Quảng Nguyên viết. "Trong quan điểm của ông, nhân tố chính trong khát khao muốn trở nên giàu có của Thâm Quyến từ sớm hơn các khu vực khác là khả năng xúc tiến ngoại thương".
Thực tế, tại Hội nghị Công tác Trung Ương, ông Vũ đã nói với quan chức đảng ủy Quảng Đông về ý tưởng của riêng mình - lấy cảm hứng của một quảng cáo mà một người bạn mang đến từ Hồng Kông - là xây dựng các tòa nhà văn phòng ở Thâm Quyến dưới sự bảo trợ của Viện Khoa học hàn lâm Trung Quốc (nơi ông công tác) và cho những người từ Cửu Long thuê, bởi những nơi đó giá đất đai đang tăng mạnh Ông vũ thậm chí còn tính tới chuyện đơn giản hóa các thủ tục kiểm soát biên giới cho khách từ Hồng Kông.
Gorman và những người cùng quê hương, tất cả đều từng trực tiếp trải qua di sản bài ngoại của Cách mạng văn hóa nhiều năm trong suốt các chuyến di chuyển tới Trung Quốc, chắc chắn có lý do cảm thấy hoài nghi. Nhưng thực tế Trung Quốc hết sức nghiêm túc với kế hoạch mời nhà đầu tư nước ngoài vào các "quận đặc biệt" mới đang trong giai đoạn lên kế hoạch.
Quan chức địa phương - đặc biệt ở Quảng Đông - hẳn rất hứng thú với ý tưởng trên. Nhưng đây là trường trường hợp mà Đặng Tiểu Bình cam kết uy tín của mình để thúc đẩy sáng kiến. Ông đã dành nhiều năm tháng bôn ba để nghiền ngẫm cách làm sao kích thích nền kinh tế Trung Quốc, và đi đến kết luận, sau khi ông trở lại với quyền lực vào đầu những năm 1970, rằng đất nước ông phải khai thác thị trường toàn cầu để có công nghệ, bí quyết và chuyên môn quản lý. Chuyến thăm năm 1974 của ông tới trụ sở Liên hợp quốc tại New York City là chuyến đi đầu tiên gây kinh ngạc cho ông và khiến hiểu được Trung Quốc đang tụt hậu đến thế nào.
Sau lần trở lại thứ ba từ quên lãng chính trị vào năm 1977, Đặng Tiểu Bình đã có một loạt chuyến đi khắp khu vực để củng cố quan điểm của mình. Hành trình của ông bao gồm chuyến thăm Nhật Bản, nơi ông thấy bằng chứng về sức trỗi dậy phi thường sau chiến tranh của một đất nước và vươn lên trở thành đỉnh cao của nền kinh tế thế giới, cũng giống như chuyến thăm Singapore, một quốc gia nhỏ bé, cũng đang chứng minh cho công thức Đông Á là nhà nước một đảng và kinh tế thị trường có sức sống vô cùng mạnh mẽ. Bình luận cá nhân của Đặng Tiểu Bình đối với nhóm diễn thuyết của ông vào năm 1978 khi kể công nhân Nhật Bản và Singapore có thể sử dụng tiền thưởng của mình để mua nhà và xe hơi, cho thấy rõ ràng rằng những kinh nghiệm này có ảnh hưởng lớn tới tư duy của ông.

Đó chưa phải tất cả. Đặng Tiểu Bình và đồng nghiệp - ít nhất là những người cùng muốn dành sự quan tâm cho thế giới bên ngoài - cũng đều ý thức sâu sắc về sự thay đổi kỳ diệu mức sống tại Hồng Kông và Đài Loan, nơi - cũng giống như Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc - đã đưa ra những quyết định chiến lược từ bỏ tư duy "tự cung tự câp" và tích cực tham gia vào thương mại toàn cầu. Cụ thể, Đài Loan đã thu nhiều lợi ích từ các "khu chế xuất", khu vực với cơ chế thương mại, pháp lý và thuế khóa đặc biệt nhằm lôi kéo nhà đầu tư nước ngoài khai thác nguồn lao động có đào tạo nhưng giá rẻ. Đài Loan đặt cược rằng thâm hụt thuế khóa sẽ được bù đắp lại bằng những bí quyết mà họ thu được trong trình độ quản lý và kỹ thuật sản xuất (đó là chưa kể có thêm nhiều việc làm). Đến cuối những năm 1970, canh bạc của họ đã thắng lớn và trở thành tấm gương cho đồng bào đại lục.
Nhưng động lực thúc đẩy một cách tiếp cận sáng tạo đối với đầu tư nước ngoài không chỉ đến từ giới lãnh đạo cấp cao. Cũng có những cuộc vận động mạnh mẽ đến từ cấp độ khu vực - đặc biệt là tại một trong những nơi sắp hưởng lợi nhiều nhất từ thế giới bên ngoài. Đó là Quảng Đông, tỉnh nằm tiếp giáp với Hồng Kông.
Thủ phủ Quảng Châu là nơi diễn ra hội trợ thương mại truyền thống bởi nó có lịch sử lâu đời đã là một trong số ít những khu vực nơi người nước ngoài được phép làm ăn với người Trung Quốc. Vị trí gần gũi với Hồng Kông, nơi có dân cư bao gồm nhiều người di cư nói tiếng Quảng Đông từ Quảng Đông, nghĩa là tỉnh này vẫn có thể tiếp cận với mạng lưới rộng lớn các liên lạc với thế giới bên ngoài, bao gồm mạng lưới khổng lồ các Hoa kiều.
Tất cả điều đó có nghĩa là một khối lượng nhất định thương mại phi pháp vẫn tiếp tục diễn ra ngay trong những ngày đen tối nhất của thời Mao Trạch Đông. Nhiều người Quảng Đông nhận kiều hối từ người thân Hồng Kông hoặc xa hơn gửi về, và những quỹ này là nguồn doanh thu chính cho khu vực mà nếu không có nó chắc hẳn sẽ bị cắt đứt "truyền thống" thương mại của mình sau năm 1949.
Các quan chức đảng Quảng Đông biết điều này rất rõ, và họ rất vui khi nói chuyện tại Bắc Kinh về việc mở cửa đất nước cho đầu tư nước ngoài. Họ thuyết phục đảng cho phép họ mở cửa một số kênh thương mại khiêm tốn với Hồng Kông, nhưng họ còn nghĩ xa hơn. Kế hoạch của họ nhận được cú hích lớn vào năm 1978, khi một nhóm các quan chức đảng cấp cao, bao gồm một số người từ Quảng Đông, khởi hành chuyến đi tìm hiểu thực tế tới Tây Âu mà ảnh hưởng lớn tới họ giống như những chuyến đi của Đặng Tiểu Bình đã làm thay đổi con người ông. Họ ấn tượng không chỉ bởi hệ thống kiểm soát không lưu hiện đại tại sân bay Charles de Gaulle ở Paris và máy vắt sữa bò tự động, mà còn bởi việc phương Tây sẵn sàng cho họ tiếp xúc với những tri thức mới và bởi sự hào hứng của doanh nhân châu Âu muốn đầu tư vào các nhà máy sản xuất ở Trung Quốc.
Tháng 1/1979, hai tuần sau khi kết thúc kỳ Đại hội lần thứ 3, tân bí thư Quảng Đông, Tập Trọng Huân, nhận được sự chấp thuận của Bắc Kinh để bắt đầu phác thảo kế hoạch "đặc khu" mà sẽ mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Đặc khu đầu tiên mở cửa ngay sau khi đó ở Shekou, một góc của Thâm Quyến. Công ty Chinese Merchant Steamship, một công ty Hồng Kông được thành lập và thuộc sở hữu của chính quyền ở Bắc Kinh, đã vận động mở một khu vực cho phép tháo rời tàu cũ lấy phế liệu, và bán lấy lợi nhuận cao cho các nhà tư bản thèm tài nguyên ở Hồng Kông. Thực tế công ty được nói đến này về mặt hình thức là "nước ngoài" nhưng trên thực tế do Trung Quốc quản lý chính là một thử nghiệm quan trọng.
"Shekou do vậy trở thành nơi đầu tiên ở Trung Quốc cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu vực đầu tiên nơi các quyết định về một công ty bên trong lãnh thổ Trung Quốc có thể được đưa ra bởi những người sống bên ngoài nước này", Vũ Quảng Nguyên ghi lại. (Tập Trọng Huân, vị quan chức chịu trách nhiệm thành lập đặc khu Shekou, là cha của Tập Cận Bình, chủ tịch Trung Quốc hiện nay).
Xu hướng kinh tế của thế giới bên ngoài đã tạo thêm động lực cho các quan chức Quảng Đông tiếp tục mở cửa tỉnh. Khu vực Hồng Kông láng giềng đang phải nếm trải một trong những nhược điểm đặc trưng của tăng trưởng kinh tế: lương của người lao động tăng mạnh. Điều này làm xói mòn nhanh chóng khả năng cạnh tranh quốc tế của họ và các doanh nhân Hồng Kông lập tức cố gắng tìm kiếm nguồn lao động mới. Và địa điểm khả dĩ nhất nằm ở chính bên kia biên giới.
C. K. Phong là giám đốc cơ sở của Eltrinic, một doanh nghiệp Hồng Kông nhỏ chuyên sản xuất các thiết bị điện. Hoạt động sản xuất của Eltrinic cần khá nhiều lao động, và lương tăng đã tác động tiêu cực đến họ. Do vậy khi ông chủ của công ty nghe tin từ một người liên lạc ở đại lục nói rằng đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ sớm mời đón các nhà sản xuất nước ngoài, ông Phong lập tức bị thu hút. "Tôi tình nguyện tới đại lục để mở cơ sở sản xuất và tìm kiếm công nhân tại đó", ông nhớ lại. "Tôi hết sức lo lắng về sự thiếu hụt nhân công ở Hồng Kông". Trước tiên, ông tới Bảo An - chính nơi mà Gorman đã đến sau đó vài tháng - vào cuối năm 1978, và sớm bắt đầu kế hoạch xây dựng một khu nhà xưởng nhỏ và vận chuyển máy móc từ Hồng Kông tới. Các nhà chức trách đại lục trao cho Phong một quyền đi lại đặc biệt từ Hồng Kông, thực tế là một cuốn sách dầy ghi lại nhiều thông tin. Nhưng thứ được cho là quyền tiếp cận ưu tiên này dường như không làm giảm số lượng giấy tờ mà ông phải điền vào mỗi lần qua lại. Ông nói, mỗi lần qua Trung Quốc "cứ như bước vào một thế giới khác".
Mùa xuân 1979, sau khi hoàn thành vô số các thủ tục hành chính, ông Phong mở nhà máy Eltrinic đầu tiên ở Thâm Quyến. Ông thuê 20 công nhân địa phương. (Tổng số lao động của công ty ở thời điểm đó là khoảng 700 gười, chủ yếu ở Hồng Kông). Năm đầu tiên chủ yêu để đao tạo họ. Sản xuất dự kiến của nhà máy - phụ kiện nhiệt cho máy sấy thổi - cần một số kỹ năng nhất định, và lao động đại lục phải học từ đầu. Không ai trong số họ từng được thấy một chiếc máy sấy thổi. "Công nhân sản xuất bất cứ thứ gì bạn muốn", ông Phong nhớ lại. "Họ không quan tâm". Việc duy trì liên lạc giữa nhà máy với trụ sở ở Hồng Kông cũng không phải chuyện dễ. Máy điện thoại duy nhất ở địa phương đặt tại văn phòng quản lý thôn, và đăng ký cuộc gọi cũng hết sức khó chịu. Tuy nhiên, người dân làng vẫn vô cùng hạnh phúc. Khi dây chuyền sản xuất bắt đầu hoạt động, họ giết một con chó - một món ăn khoái khẩu của dân địa phương - để mở tiệc ăn mừng sự kiện.
Việc thành lập nhà máy của ông Phong diễn ra trước sự thành lập chính thức "đặc khu" vào ngày 26/8/1979 - và điều đó cho thấy khá nhiều về sự phát triển ở Trung Quốc diễn ra ở thời điểm đó. Ngay cả khi Quảng Đông còn đang kêu gọi Bắc Kinh quyền tự quyết nhất định trong quản lý các hoạt động tại thành phố và thu hút nhà đầu tư nước ngoài, thì liên lạc đầu tiên giữa tỉnh này với nhà đầu tư nước ngoài đã diễn ra từ trước.
Điều này tạo ra những điều kiện đặc biệt thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng họ cũng dễ dàng bị cách ly với xã hội. Việc cách ly nhằm xoa dịu những người bảo thủ trong đảng, vì họ lo ngại khu vực này có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chủ nghĩa tư bản. Mỉa mai thay, nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng lại đánh giá cao điều đó; với họ, chiến lược quy hoạch đất của Đặng Tiểu Bình tạo một mức độ bảo vệ nhất định khỏi phản ứng chính trị dữ dội từ chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Chắc chắn, các đặc khu kinh tế cần thời gian để chứng tỏ kết quả, nhưng đó không phải là vấn đề. Cải cách ở Trung Quốc được cho là sẽ diễn ra chậm; nước này đã trải qua đủ những những hỗn loạn. Đó chính là nền tảng của một nền kinh tế mới - một khi được thúc đẩy bởi hiệu quả hơn là tính tư tưởng. Cuộc cách mạng mới có thể đã bắt đầu như thế, dù theo cách cách thận trọng của riêng họ.
Không ai tiêu biểu cho một cuộc cách mạng như vậy hơn Dung Chí Nhân. Nhà hàng ông mở ở đó vào mua xuân 1979 đã tỏ ra là một thành công lớn. Ba năm sau ông nhận được vinh dự gặp Đặng Tiểu Bình tại một sự kiện xã hội đặc biệt dành cho doanh nhân. Việc doanh nhân địa phương được đánh là giá xứng đáng có một cuộc gặp gỡ như vậy nói nên nhiều điều; một vài năm trước đó, ông Dung đã từng bị bắt giam vì chính những việc làm đã tạo nên uy tín của ông. Ông nói, Đặng Tiểu Bình vẫn luôn là một tấm gương. "Đặng Tiểu Bình trở lại vào năm 1977 đã mang đến cho tôi một thông điệp quan trọng", ông Dung nói. Nếu kiên trì, bạn sẽ có cơ hội làm được nhiều hơn là chỉ sống để tồn tại. Bạn thậm chí sẽ sung túc.
Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt.
Trâm Anh (Theo FP)