
Tăng hơn 8.400 tỷ đồng chi BHYT
Tại hội thảo Đột phá tài chính y tế đáp ứng với yêu cầu thực hiện BHYT toàn dân trong thời kỳ mới do Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức ngày 28/8, Thạc sĩ Hoàng Trung Tuấn, Vụ phó Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế), cho biết theo định hướng mới, từ năm 2026, phạm vi chi trả BHYT từng bước được mở rộng, không chỉ tập trung vào khám chữa bệnh mà còn hướng tới một số hoạt động phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc bệnh theo yêu cầu chuyên môn.
Trong khi đó, chi phí từ quỹ đang có xu hướng tăng. Sáu tháng đầu năm 2026, ghi nhận 94,4 triệu lượt khám, tổng chi BHYT đạt 84,8 nghìn tỷ đồng tăng hơn 8.400 tỷ (11,1%) so với cùng kỳ năm 2025. Trong cơ cấu chi, tiền thuốc chiếm khoảng 30%, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh 20%, phẫu thuật, thủ thuật 18%, tiền giường 16% và thiết bị y tế 12%.
Theo ông Tuấn, điều này đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý và sử dụng quỹ, trong đó đa dạng hóa phương thức thanh toán, tăng cường mua sắm chiến lược, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và nâng cấp hệ thống giám định điện tử nhằm kiểm soát chi phí, hạn chế lãng phí và trục lợi quỹ.
Trong dài hạn, áp lực lên hệ thống y tế sẽ còn lớn hơn khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số. Dự báo đến năm 2036, nước ta có khoảng 15,5 triệu người cao tuổi và đến năm 2046 có khoảng 26,4 triệu người từ 65 tuổi trở lên. Cùng với tuổi thọ tăng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chi phí điều trị các bệnh mạn tính cũng gia tăng.
Từ thực tế này, TS. Ong Thế Duệ, Viện Chiến lược và Chính sách (Bộ Y tế) đề xuất nghiên cứu cơ chế sử dụng nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá, rượu bia và đồ uống có đường để tái đầu tư cho y tế.
Theo ông Duệ, đây là nhóm sản phẩm tạo ra gánh nặng lớn về bệnh không lây nhiễm và ảnh hưởng đến năng suất lao động.

Từ kinh nghiệm của Philippines và Thái Lan, ông Duệ đề xuất Việt Nam nghiên cứu mô hình kết hợp: Một phần nguồn thu được ưu tiên bổ sung cho Quỹ BHYT thông qua ngân sách nhà nước, một phần phân bổ trực tiếp cho các hoạt động phòng bệnh.
Ông Duệ cho rằng nguồn thu này được xác định là nguồn lực bổ sung, không thay thế ngân sách nhà nước dành cho y tế và BHYT. Việc triển khai cần được nghiên cứu đồng bộ với Luật Ngân sách nhà nước, Luật BHYT và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, bảo đảm nguồn thu được quản lý thống nhất nhưng có nguyên tắc ưu tiên rõ ràng.
3 trụ cột mở rộng tài chính y tế
Ở góc nhìn quốc tế, TS. Jennifer Gill, Phó giám đốc nhóm nghiên cứu công nghệ y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (Anh), cho rằng đầu tư cho y tế không chỉ mang lại lợi ích sức khỏe mà còn tạo giá trị kinh tế thông qua nâng cao năng suất lao động.
Kkhoảng 24% mức tăng trưởng tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình trong giai đoạn 2000-2012 có liên quan đến những cải thiện về sức khỏe. Vì vậy, đầu tư cho y tế cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư mang lại lợi ích tài khóa trong dài hạn.
Theo chuyên gia, Việt Nam cần xây dựng 3 trụ cột tài chính cho y tế.
Thứ nhất là huy động nguồn thu công: Mở rộng các nguồn thu công dành cho y tế và nghiên cứu phân bổ nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm có hại cho sức khỏe.
Thứ hai là tăng cường đóng góp từ phía người sử dụng dịch vụ y tế: Tăng cường tài trợ hợp nhất hoặc bổ sung, cải cách cơ chế đóng góp, phát triển BHYT bổ sung và các hình thức tiết kiệm y tế.
Thứ ba là cải thiện khả năng chi trả và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Cải thiện khả năng chi trả, dự đoán tác động ngân sách và thỏa thuận quản lý, tiếp cận thuốc (MEA) và các chương trình hỗ trợ thuốc (PAP).


