LTS: Vì sao trong một xã hội đang phát triển ở Việt Nam, việc đọc sách lại chưa trở thành một thói quen phổ biến? Loạt bài của tác giả Phạm Quang Vinh gợi mở một hướng tiếp cận khác: Đọc sách không phải là lựa chọn cá nhân đơn lẻ mà là sản phẩm của một hệ sinh thái – nơi chính sách, giáo dục, thị trường và giá trị xã hội cùng định hình.
VietNamNet giới thiệu loạt bài như một diễn đàn mở, mong muốn nhận được các góc nhìn đa chiều từ độc giả, nhà quản lý, nhà giáo dục và những người làm xuất bản: Làm thế nào để xây dựng một xã hội đọc trong bối cảnh kinh tế tri thức?
Xem lại bài 1: Từ giấc mơ "thư trung hữu kim ngọc" đến thực tế kinh tế tri thức
Quyền lực xã hội, sự trọng vọng của cộng đồng được trao cho những người đọc sách, hiểu chữ, thông thạo lý lẽ, không có đường tắt nào khác để nắm được quyền lực hay trở thành người được trọng vọng. Trong mô hình xã hội cũ tiến thân bằng khoa cử, câu “thư trung hữu kim ngọc” rõ ràng không phải là một ẩn dụ, đó là thực tế.
Sự gián đoạn của truyền thống khoa cử và truyền thống học hành mới theo kiểu phương tây đã tạo ra sự đứt gãy khi chưa thay thế ngay được hệ thống khoa cử. Ở giai đoạn chuyển tiếp, những người có học, có kiến thức vẫn còn được trọng vọng như một tàn dư của truyền thống cũ.
Hệ thống giáo dục phương Tây và xã hội hiện đại khiến con đường tiến thân không còn đi qua những trang sách theo nghĩa cổ điển nữa, mạng lưới quan hệ, hoàn cảnh xuất thân, khả năng thích nghi, khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh,… trở thành những thành tố quan trọng để có được vị thế xã hội và sự phồn thịnh cho mình. Việc đọc sách, vì thế, dần mất vai trò giúp con người đổi đời.
Đọc sách không còn là con đường rõ ràng dẫn tới thành công, động lực đọc suy giảm là điều tự nhiên.
Tuy nhiên, sự suy giảm một cách toàn diện thói quen đọc còn bị tác động sâu sắc bởi những diễn biến kinh tế - xã hội khác trong khoảng 30 - 40 năm gần đây, khiến thói quen đọc của người Việt suy giảm rõ rệt.

Thời kỳ kinh tế khó khăn của xã hội Việt Nam trong những năm kinh tế bao cấp đã ảnh hưởng đến thói quen đọc, mà trước hết là sự suy giảm giá trị của tri thức và của người đọc. Nếu trước đây việc đọc sách có thể giúp thay đổi điều kiện sống, giúp có vị trí xã hội cao hơn, thì trong những năm tháng khó khăn đó, các mánh lới và khả năng giúp cải thiện đời sống khó khăn hàng ngày, hỗ trợ sinh tồn quan trọng hơn rất nhiều.
Đó là thời của những câu chuyện châm biếm theo kiểu “anh là tiến sĩ mà lại nói dối em là anh làm tài xế”. Người đọc sách được nhìn nhận tiêu cực theo kiểu vô dụng và mơ mộng hão huyền. Văn học của thời kỳ này cũng khá u ám và cái nhìn về xã hội thường khá tiêu cực, hoặc là những minh hoạ thiếu hấp dẫn và xa rời thực tế. Ít tác phẩm đẹp, thiếu những câu chuyện duyên dáng đáng để nhớ, trong khi sự hào hùng, bi tráng của chiến tranh đã lùi xa, khiến sách văn học không còn đủ hấp dẫn người đọc, trong khi sách về kiến thức phổ thông, các kỹ năng, sách về kỹ thuật,… ít được xuất bản, trừ một số khá ít sách được xuất bản nhờ sự hỗ trợ của các quốc gia thân thiện.
Khi việc đọc không tạo ra giá trị, người đọc cũng ít dần đi, và thói quen đọc rời bỏ công chúng.
Thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế góp tiếp vào việc làm suy giảm thói quen đọc của người Việt Nam, khi tạo ra một xã hội đề cao các giá trị vật chất hơn là các giá trị tinh thần. Một lần nữa, việc đọc sách và giá trị của tri thức tiếp tục bị suy giảm. Xã hội Việt Nam hiện đại coi quyền lực và tiền bạc là những giá trị trên hết, chứ không phải là tri thức, và con đường để có được quyền lực và tiền bạc lại hiếm khi đi qua những trang sách. Vai trò của tri thức, sự trọng vọng đối với trí thức cũng suy giảm, khiến địa vị xã hội của họ thấp dần đi, không còn trở thành đích đến, mục tiêu cho thanh thiếu niên. Những người trẻ, vì thế, sẽ tìm con đường tiến thân và tạo dựng vị thế ở những cách khác.
Họ không cần đọc sách nữa.
Sự thay thế của thông tin nhanh và sự suy giảm của đọc sâu
Sự phổ biến của internet đã mang lại những giá trị tích cực, giúp con người kết nối và chia sẻ tốt hơn. Từ những giao thức liên lạc mới, các diễn đàn trực tuyến bùng nổ, cho đến sự chia sẻ hiểu biết, ý tưởng, khả năng phổ biến nhanh và rộng rãi của các máy tính cá nhân được kết nối, internet đã trở thành phương tiện quan trọng giúp con người chia sẻ kiến thức và thông tin tốt hơn.
Những năm gần đây, khi các nền tảng mạng xã hội cho phép chia sẻ các nội dung ngắn và nhanh thống trị, đã không chỉ khiến cho báo chí toàn cầu và ở Việt Nam suy yếu, mà còn khiến cho thói quen đọc của người Việt Nam cũng suy giảm.
Mạng xã hội, các video ngắn và những tin tức tức thời đã tạo ra một lớp khái niệm mới của những điều “tưởng mình biết”, ví đã nghe qua ở đâu đó, nhu cầu hiểu sâu không còn nữa.
Việc đọc sách đòi hỏi khả năng tập trung trong một thời gian liên tục, không bị phân tâm, và một mức độ kiên nhẫn nhất định. Tất cả những yếu tố này đều có chung một kẻ phá bĩnh, là mạng xã hội và những video ngắn, khi chúng luôn phá vỡ sự tập trung bằng nhiều tab trên máy tính, bằng sự quyến rũ của việc biết gần như có thể biết một cách tức thì và biết về mọi thứ qua các công cụ tìm kiếm.
Con người đọc nhiều chữ hơn, tiếp cận nhiều thông tin hơn, nhưng hiểu biết lại nông cạn hơn. Việc đọc sâu, tạo dựng hiểu biết nền tảng trở nên khó khăn. Cho dù đây là vấn đề của toàn thế giới, nhưng ở những xã hội như Việt Nam, nơi nền tảng thói quen đọc vốn đã yếu, tác động này càng rõ rệt.
Trong những xã hội mà thói quen đọc đã bền vững, xu hướng dường như khác đi, ngành xuất bản thế giới vẫn tăng trưởng tốt. Theo một báo cáo của Fortune Business Insights, trị giá ngành xuất bản thế giới năm 2024 là 136,23 tỷ USD, năm 2025 là 142 tỷ USD, và được dự báo sẽ ở mức 202,24 tỷ USD năm 2032. Tức là trong 8 năm quy mô thị trường sẽ tăng khoảng 50%, 66 tỷ đôla. Các báo cáo của WIPO cũng chỉ ra, các thị trường xuất bản ở các quốc gia phát triển và có nền kinh tế bền vững, thị trường sách sẽ tiếp tục tăng trưởng và tăng trưởng đều đặn, cho dù sách điện tử và sách nói cũng sẽ tăng thêm thị phần, nhưng sách in vẫn tăng đều đặn.
Ở Việt Nam thì không lạc quan như vậy, khi thói quen đọc vẫn đang suy giảm. Nhưng đó cũng chỉ là một cảm giác, vì thực sự tôi không có những số liệu thống kê đầy đủ cho phép đánh giá một cách khách quan.
Nhìn sang Trung Quốc sẽ thấy một bức tranh khác, một bài báo gần đây của People Daily cho biết, thị trường đọc số Trung Quốc đã tăng gần gấp đôi sau 5 năm, từ 30,25 tỷ NDT lên 59,48 tỷ NDT ( khoảng 8,67 tỷ USD), có 689 triệu người Trung Quốc đang đọc sách số (2025), tăng 2,95% so với năm trước, Trung Quốc có khoảng 70 triệu tác phẩm sách số, 80,8% người trưởng thành đang đọc sách số, gồm sách điện tử, văn học trực tuyến, sách nói. 82,3% người trưởng thành có thói quen đọc sách, họ đọc trung bình 8,39 cuốn sách mỗi năm (so với người Việt đọc dưới 2 cuốn/năm). Trong khi đó, một khảo sát gần đây cho thấy 45,9% người Trung Quốc trưởng thành vẫn thích đọc sách in.
Bức tranh này của Trung Quốc cho thấy, không hẳn cứ có sự tác động của các phương tiện thông tin nhanh và mạng xã hội thì thói quen đọc sẽ suy giảm. Sự tăng trưởng đều đặn của các sách giấy và sách điện tử cho thấy, việc đọc của người Trung Quốc không bị suy giảm, mà vẫn tiếp tục tăng, ngành xuất bản vẫn tiếp tục phát triển. Theo dữ liệu của Beijing OpenBook, quy mô thị trường sách Trung Quốc năm 2023 đạt khoảng 91,2 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 12–13 tỷ USD Mỹ, tăng 4,72% so với năm trước. Tuy nhiên, con số này chủ yếu phản ánh thị trường bán lẻ sách, và chưa bao gồm đầy đủ sách giáo khoa cũng như các phân khúc nội dung số.
Trong khi đó, bức tranh của ngành xuất bản Việt Nam cho thấy một bức tranh khá đặc biệt, chúng ta là một quốc gia có tỷ lệ biết chữ cao, nhưng việc đọc mang tính tự nguyện lại yếu. Trung bình mỗi người chỉ đọc khoảng 1,2 cuốn sách mỗi năm nếu loại trừ sách giáo khoa. Điều này cho thấy thị trường sách chủ yếu được thúc đẩy bởi nhu cầu thực dụng, như sách kỹ năng, sách hướng nghiệp, và bởi nhu cầu học tập của học sinh, hơn là một văn hóa đọc rộng khắp trong xã hội. Xu hướng số hoá cũng rất thấp, và còn rất nhiều điểm nghẽn để phát triển thị trường này, và tạo dựng thói quen đọc trước sự “tấn công” của các xu hướng nghe nhìn nhanh.
Thực ra, nếu nhìn vào những số liệu rời rạc còn có thể thu thập được, thì bức tranh xuất bản Việt Nam không quá khiêm tốn, mỗi năm có khoảng 30.000–40.000 đầu sách được xuất bản, với hàng trăm triệu bản in, doanh thu toàn ngành vào khoảng 4.000–5.000 tỷ đồng, tương đương vài trăm triệu USD Mỹ. Nhưng về cấu trúc, sách giáo dục chiếm tỷ trọng rất lớn, có thể lên tới một nửa số đầu sách và hơn một nửa doanh thu. Nếu loại trừ sách giáo khoa, số sách mà một người Việt đọc trung bình mỗi năm chỉ còn lại ở mức rất thấp, chỉ hơn một cuốn.
Có thể thấy rằng, việc đọc ở Việt Nam vẫn chủ yếu gắn với nghĩa vụ học tập, chứ chưa trở thành một nhu cầu tự thân của xã hội.
Kì cuối: Khủng hoảng của hạ tầng đọc: Hiệu sách, thư viện và không gian tri thức