Tính đến ngày 31/12/2025, tổng dư nợ cho vay khách hàng của 30 ngân hàng thương mại trong nước (không bao gồm SCB và 4 ngân hàng được chuyển giao bắt buộc) đạt khoảng 15,8 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với đầu năm, theo báo cáo tài chính ngân hàng mẹ.
Trong đó, nhóm 5 ngân hàng lớn (Big5) gồm BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank và MB, mỗi ngân hàng đạt mức cho vay trên 1 triệu tỷ đồng. Số liệu trên chưa bao gồm phần dự phòng rủi ro tín dụng đã trích lập.
Tổng cho vay khách hàng của nhóm Big5 xấp xỉ 8,9 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 56,3% thị phần cho vay trong tổng số 30 ngân hàng.
Đáng chú ý, BIDV đạt mức cao nhất trong hệ thống với xấp xỉ 2,3 triệu tỷ đồng cho vay khách hàng, tăng 15,72% so với đầu năm 2025.
Agribank và VietinBank, với mức tăng trưởng tín dụng lần lượt 14,8% và 16,07%, cũng cho vay ra xấp xỉ 2 triệu tỷ đồng mỗi ngân hàng.
Trong khi đó, tổng dư nợ của Vietcombank tính đến 31/12/2025 là 1,63 triệu tỷ đồng, tăng 16,05% so với đầu năm.
Với mức tăng trưởng tín dụng lên đến 40%, Ngân hàng Quân đội (MB) lần đầu tiên ghi nhận cho vay khách hàng vượt 1 triệu tỷ đồng, cụ thể là 1,02 triệu tỷ đồng.

Với nhóm ngân hàng tư nhân, VPBank dẫn đầu khi con số cho vay tính đến 31/12/2025 đạt 833 nghìn tỷ đồng, tăng 36,63% so với đầu năm.
Techcombank đạt mức tăng trưởng tín dụng trên 19% với doanh số cho vay ra hơn 713 nghìn tỷ đồng.
Trong khi đó, ACB cán đích cho vay khách hàng hơn 660 nghìn tỷ đồng, tăng 17,28% so với đầu năm.
Sacombank và SHB cũng thuộc nhóm dẫn đầu thị trường với dư nợ cho vay khách hàng đạt lần lượt lên đến 593 nghìn tỷ đồng (tăng 23,57%) và 592 nghìn tỷ đồng (tăng 18,29%).
Nhóm các ngân hàng cho vay đạt hơn 500 nghìn tỷ đồng còn có HDBank, với 518 nghìn tỷ đồng, tăng 23,57% so với đầu năm.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh tại các khu vực, đến ngày 10/12/2025, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 2.219 khách hàng, với dư nợ khoảng 1.275 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng (TCTD) giảm lãi suất cho trên 69.000 khách hàng, với dư nợ khoảng 18.685 tỷ đồng.
Đồng thời, các nhà băng đã triển khai các chương trình cho vay khôi phục sản xuất kinh doanh sau bão với lãi suất ưu đãi, với khoảng 2.238 tỷ đồng được giải ngân cho khoảng 10.600 khách hàng vay tính đến nay.
Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, trong năm qua, các TCTD đã tích cực giải ngân cho các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản đã nâng quy mô từ 15.000 tỷ đồng lên 185.000 tỷ đồng; chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long...
Một số chương trình khác như: cho vay nhà ở xã hội; cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; Chương trình tín dụng 500.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; các chương trình tín dụng chính sách... cũng đang được các TCTD tích cực triển khai.
NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, có điều chỉnh (tăng hoặc giảm) phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.
| CHO VAY KHÁCH HÀNG CỦA CÁC NHTM TẠI NGÀY 31/12/2025 | |||
| STT | NGÂN HÀNG | CHO VAY KHÁCH HÀNG (TỶ ĐỒNG) | TĂNG TRƯỞNG (%) |
| 1 | BIDV | 2.287.777.203 | 15,72 |
| 2 | AGRIBANK | 2.000.000.000 | 14,8 |
| 3 | VIETINBANK | 1.941.165.988 | 16,07 |
| 4 | VIETCOMBANK | 1.629.740.150 | 16,05 |
| 5 | MB | 1.019.471.567 | 40,68 |
| 6 | VPBANK | 832.975.811 | 36,63 |
| 7 | TECHCOMBANK | 713.271.777 | 19,33 |
| 8 | ACB | 660.465.765 | 17,28 |
| 9 | SACOMBANK | 593.048.795 | 14,33 |
| 10 | SHB | 592.088.200 | 18,29 |
| 11 | HDBANK | 517.876.652 | 23,57 |
| 12 | LPBANK | 386.867.042 | 18,21 |
| 13 | VIB | 377.113.195 | 18,47 |
| 14 | TPBANK | 300.726.309 | 21,63 |
| 15 | SEABANK | 233.780.410 | 15,59 |
| 16 | MSB | 198.806.672 | 15,72 |
| 17 | NAM A BANK | 195.333.034 | 17,90 |
| 18 | OCB | 195.190.888 | 15,98 |
| 19 | EXIMBANK | 181.901.791 | 11,33 |
| 20 | PVCOMBANK (đến 30/9/2025) | 128.556.298 | 14,45 |
| 21 | BAC A BANK | 124.851.577 | 15,36 |
| 22 | ABBANK | 112.691.295 | 16,14 |
| 23 | VIETBANK | 103.772.419 | 12,19 |
| 24 | NCB | 96.302.754 | 37,62 |
| 25 | VIET A BANK | 87.680.915 | 10,77 |
| 26 | BVBANK | 76.601.368 | 14,01 |
| 27 | KIENLONG BANK | 70.413.492 | 16,48 |
| 28 | BAOVIET BANK | 57.809.792 | 22,30 |
| 29 | PGBANK | 45.781.157 | 12,18 |
| 30 | SAIGONBANK | 21.736.612 | 0,52 |
| 15.783.798.928 | |||