Từ truyền thống đoàn kết, đùm bọc, tương thân, tương ái của các dân tộc, từ chủ nghĩa nhân đạo cao cả, Hồ Chí Minh đã nâng lên thành nguyên tắc tương trợ. Có thể nói đây là một nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

Sự thống nhất giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
Tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh về đồng bào các dân tộc thiểu số trước hết bắt nguồn từ tư tưởng về sự thống nhất giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
Hồ Chí Minh kết luận: Đối với các dân tộc thuộc địa, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Vì vậy đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức là chiến lược, là sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam đến thành công.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ hết sức quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Người đã vận dụng sáng tạo 3 nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác - Lênin "Đoàn kết, bình đẳng, tương trợ". Bác nói: "Đồng bào các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà", "Các cấp bộ đảng phải thi hành đúng đắn chính sách dân tộc, thực hiện đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc".
Bắt nguồn từ truyền thống gắn bó, cố kết lâu đời trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc chung lưng đấu cật để chống ngoại xâm, chống thiên tai, nên Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần đoàn kết dân tộc. Mặc dù trong hoàn cảnh phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, đặc biệt là quân Pháp đang áp sát biên giới, nhưng ngày 19/4/1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại thị xã Pleiku với hơn 1.000 người tham dự.
Trong thư gửi Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.
Cùng với đoàn kết, bình đẳng cũng là nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Nó xuất phát từ quyền cơ bản của con người, thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".
Bác khẳng định, để xây dựng đất nước giàu mạnh thì trước hết phải làm cho các dân tộc được bình đẳng. Bác cũng chỉ rõ quyền bình đẳng phải được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa. Để có được quyền bình đẳng, các dân tộc phải phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phải giác ngộ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phải đoàn kết tương trợ nhau để toàn dân tộc mau chóng đạt được sự bình đẳng đó.
Từ truyền thống đoàn kết, đùm bọc, tương thân, tương ái của các dân tộc, từ chủ nghĩa nhân đạo cao cả, Hồ Chí Minh đã nâng lên thành nguyên tắc tương trợ. Có thể nói đây là một nét độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Trong nhiều bài nói, bài viết, Người luôn nhắc nhở Đảng, căn dặn cán bộ phải thương yêu, quan tâm đến lợi ích của nhân dân. Người cũng nhắc nhở các dân tộc đa số hay thiểu số phải coi nhau như anh em ruột thịt, no đói sướng khổ có nhau.
Hiểu rõ vị trí trọng yếu của vùng dân tộc, miền núi
Tư tưởng Hồ chí Minh về các dân tộc thiểu số còn bắt nguồn từ việc hiểu rõ vị trí trọng yếu của vùng dân tộc, miền núi. Người nói: “Đồng bào miền núi chiếm 1/5 tổng số nhân dân nước ta, miền núi chiếm 2/3 tổng diện tích nước ta và có hơn 3.000 cây số biên giới. Tục ngữ có câu: Rừng vàng biển bạc, câu đó rất đúng. Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước ta”. Khi đi thăm các tỉnh biên giới và biển đảo, Bác Hồ luôn nhấn mạnh vị trí “căn cứ địa cách mạng”, “nơi có nhiều dân tộc”, “nơi tiếp giáp các nước láng giềng”.
Bác Hồ nhấn mạnh tầm quan trọng về chính trị: Giáp các nước láng giềng, nơi thể hiện đường lối đối ngoại, thể hiện độc lập chủ quyền quốc gia, làm việc gì đều ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia, là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, là nơi thể hiện đại đoàn kết dân tộc, thể hiện chính sách dân tộc. Về kinh tế: Miền núi có nhiều tài nguyên phong phú, đất đai để phát triển nông nghiệp và chế biến, tiềm năng phát triển khai khoáng, năng lượng thủy điện, phát triển rừng để bảo vệ sự cân bằng sinh thái. Về quốc phòng: đó là địa đầu, là nơi phòng thủ bảo vệ tổ quốc, là căn cứ địa cách mạng.
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí trọng yếu về quốc phòng an ninh của vùng dân tộc, miền núi, là căn cứ địa cách mạng, là chỗ dựa vững chắc, nơi trực tiếp cung cấp nhân tài vật lực cho các chiến trường, nơi xuất phát của các chiến dịch vĩ đại của dân tộc.
Trân trọng phẩm chất của đồng bào dân tộc thiểu số
Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng phẩm chất trung thành, chất phác, tận tụy của đồng bào dân tộc thiểu số và dành cho đồng bào tình cảm rất sâu sắc.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có nhiều năm công tác, sinh sống với đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là những năm tháng gian khổ khó khăn, ngàn cân treo sợi tóc. Những phẩm chất trung thành, chịu đựng hy sinh, sống chất phác, tận tụy với công việc của đồng bào dân tộc thiểu số đã hun đúc nên tình cảm rất sâu sắc của Bác Hồ.


Ngày 23/11/1945, khi tiếp đoàn đại biểu tỉnh Tuyên Quang, Bác Hồ nói: “Trước khi nước ta được độc lập, các đồng bào trên đó ai nấy đã nhiệt tâm yêu nước, yêu nòi, đã gắng sức giúp anh em Việt Minh trong cuộc vận động giải phóng rất nhiều. Chính tôi có đi qua miền các anh em ở, tới đâu cũng nhận thấy anh em Thổ, Mán ai nấy đều một lòng mong Tổ quốc độc lập, oán ghét bọn giặc xâm lăng... Tôi nhờ anh chị em về nói với đồng bào trên ấy biết rằng, đồng bào Kinh và Chính phủ rất thương mến đồng bào”. Bác Hồ luôn nhắc nhở Chính phủ, căn dặn cán bộ phải nhớ công ơn của đồng bào; sau các thắng lợi của từng chiến dịch, Bác Hồ đều gửi thư khen ngợi và khẳng định Chính phủ luôn ghi nhớ những công lao của đồng bào.
Ngày 26/2/1947, trong bức thư gửi đồng bào thượng du, Người viết: “Trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, đồng bào thiểu số đã tỏ lòng nồng nàn yêu nước... Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào và trân trọng hứa rằng: Đến ngày kháng chiến thành công, Tổ quốc và Chính phủ sẽ luôn luôn ghi nhớ những công lao của đồng bào”.
Ngày 3/12/1945, Hội nghị toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội, Người đã nói: “Anh em thiểu số chúng ta sẽ được: 1 - Dân tộc bình đẳng, Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những hủ tục cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi. 2 - Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt: a, Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng; b, Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc, các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”.
Quan tâm, chăm lo đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số
Để chuẩn bị cho phong trào cách mạng lâu dài, Bác Hồ rất tin tưởng vào đức tính trung thực, thật thà, chất phác của đồng bào dân tộc thiểu số nên người đã lựa chọn thanh niên ưu tú của các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng, Lạng Sơn đưa sang Trung Quốc đào tạo, rồi cử về xây dựng cơ sở trong nước. Tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Dong và Hoàng Văn Thụ. Năm 1927, hai anh đã tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên trong vùng ra đời tại Lạng Sơn vào năm 1929 với 3 Đảng viên dân tộc thiểu số là Hoàng Đình Dong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Như, sau đó phát triển thêm nhiều đảng viên người địa phương.
Ngày 22/12/1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Cao Bằng. Trong 34 chiến sĩ đầu tiên, có 29 chiến sĩ là người dân tộc thiểu số. Đó là những chiến sĩ ưu tú góp phần xây dựng nên lực lượng vũ trang hùng mạnh của quân đội ta.
Nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số được Bác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng như Chu Văn Tấn, Lê Quảng Ba, Đàm Văn Ngụy, Y Ngông N' Đăm, Hoàng Văn Phùng, Y Wang Mlô Duôn Du, Hồng Tiến, Nhị Quý, Lâm Phái, Cư Hòa Vần...
Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học sâu sắc về việc tranh thủ nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số như trường hợp cụ Vương Chí Sình, Vừ Chông Pao. Khi giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự ở vùng dân tộc thiếu số, bao giờ Bác Hồ cũng lấy giáo dục, thuyết phục làm trọng, với một tấm lòng bao dung, nhân văn sâu sắc, thu phục lòng người.
