
Video: CENTCOM
Trong thông cáo và video đăng tải hôm 7/3, Bộ chỉ huy trung tâm Mỹ (CENTCOM) đã công bố một số hình ảnh về máy bay chiến đấu F/A-18 Hornet xuất kích từ tàu sân bay để tham gia vào chiến dịch không kích Iran. “Hỏa lực được sản xuất bởi Mỹ”, đoạn thông cáo viết.

Quá trình phát triển
Đại tá John Boyd (1927-1997) thuộc Không quân Mỹ đã đưa ra ý tưởng về một loại tiêm kích chiến đấu "kích thước nhỏ và nhẹ, có khả năng hoạt động với mức tiêu hao nhiên liệu tối thiểu nhất có thể" từ những năm cuối thập niên 1960.
Đến năm 1971, quân đội Mỹ đã thành lập nhóm nghiên cứu thử nghiệm không quân, với đại tá Boyd là thành viên chủ chốt. Nhóm này sau đó đã gửi yêu cầu đến các nhà sản xuất máy bay của Mỹ về dự án chế tạo một tiêm kích chiến đấu hạng nhẹ, có trọng lượng khoảng 9,1 tấn, tốc độ bay nhanh gấp 0,6 – 1,6 lần vận tốc âm thanh và hoạt động ở độ cao tối đa lên tới 12km.
Đến năm 1972, Không quân Mỹ đã lựa chọn 2 mẫu thiết kế Model 401 của tập đoàn General Dynamics và P-600 của công ty Northrop vào chung kết. Cả hai công ty trên sau đó được quân đội Mỹ rót tiền để lần lượt thực hiện các dự án YF-16 và YF-17.

Vào tháng 1/1975, Bộ trưởng Không quân Mỹ khi đó là John L.McLucas tuyên bố, YF-16 đã giành chiến thắng trong dự án ACF vì mẫu thử nghiệm này có chi phí hoạt động thấp, tầm bay xa hơn và khả năng tác chiến tốt hơn đáng kể so với mẫu YF-17, nhất là khi bay với tốc độ siêu thanh. Sau một số cải tiến và chỉnh sửa, tiêm kích được đưa vào biên chế phục vụ Không quân Mỹ với tên gọi chính thức là F-16.
Dù thua cuộc, nhưng YF-17 lại được Hải quân Mỹ lựa chọn làm tiền đề của dự án “Máy bay chiến đấu hải quân thử nghiệm tấn công” (VFAX). Đến năm 1978, chiến đấu cơ của chương trình VFAX đã có chuyến bay thử nghiệm đầu tiên. Sau khi chỉnh sửa và đáp ứng đủ yêu cầu tác chiến, mẫu chiến đấu cơ mới với tên gọi F/A-18 Hornet được đưa vào biên chế Hải quân Mỹ từ đầu năm 1984.
Thông số kỹ thuật
Theo trang Army Recognition, F/A-18 dài 17,1m; sải cánh rộng 12,3m; cao 4,7m. F/A-18 được trang bị 2 động cơ General Electric F404-GE-402 có công suất đẩy đạt 49 Kilo Newton (kN), nhờ vậy máy bay có thể đạt vận tốc bay tối đa lên tới 1.296 km/h.

Về vũ khí, F/A-18D được trang bị một pháo 6 nòng M61A1 Vulcan sử dụng cỡ đạn 20mm với cơ số 578 viên. Trên cánh và thân máy bay có lắp đặt 9 giá treo, có thể mang theo các loại vũ khí như các tên lửa không đối không AIM-9, AIM-7; tên lửa không đối đất như AGM-65, AGM-84; tên lửa chống hạm AGM-84 cùng nhiều loại bom khác nhau.
F/A-18 được trang bị nhiều loại radar như AN/AAS-38, AN/AAQ-28 hoặc AN/APG-73. Trong đó, radar AN/AAQ-28 có tầm hoạt động khoảng 100km.


