
Hội thảo nhằm đánh giá toàn diện thực trạng phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo của nước ta; nhận diện các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn; trao đổi, đề xuất các định hướng, giải pháp và cơ chế, chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm phát triển hai ngành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế.

Phát biểu khai mạc, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cho biết, công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo chính là “nền móng của nền công nghiệp quốc gia”, là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tự chủ công nghệ, tự chủ sản xuất và là yếu tố đầu vào, điều kiện tiên quyết phục vụ phát triển các lĩnh vực thiết yếu, các sản phẩm công nghệ chiến lược và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường.
Phó Chủ tịch Quốc hội nhận định bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế như mức độ tự chủ các loại vật liệu chiến lược, thiết bị công nghệ cao và công nghệ lõi còn rất hạn chế.
Ngày 21/5, tại cuộc làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp vật liệu, một nội dung rất quan trọng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra phát triển công nghiệp vật liệu phải có trọng tâm, trọng điểm; không dàn trải. Trong đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng cần tập trung vào 3 nhóm lớn gồm: Vật liệu cơ bản; vật liệu chiến lược; vật liệu tương lai.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng lưu ý phải chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên thô sang chế biến sâu; làm chủ công nghệ lõi; nâng cao giá trị gia tăng; phát triển công nghiệp vật liệu dựa trên khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp quốc gia có năng lực dẫn dắt.
Từ đây, Phó Chủ tịch Quốc hội nhìn nhận cần làm rõ hơn vị trí, vai trò của công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí trong giai đoạn phát triển mới của đất nước; phải có nhận thức và cách tiếp cận mới về công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí xem đây là các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc của nền kinh tế.
Với những nhóm vật liệu và sản phẩm cơ khí chiến lược, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định cần ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới, đặc biệt là các lĩnh vực phục vụ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), robot, năng lượng mới, quốc phòng, đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân và các ngành công nghệ chiến lược khác.

Phó Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề những nội dung cần hoàn thiện về thể chế, nhất là các quy định liên quan đến đầu tư, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn - quy chuẩn, khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp hỗ trợ và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; đồng thời góp ý cho việc xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo định hướng đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo.
Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, nhiều chương trình, dự án chiến lược quốc gia đang đặt ra yêu cầu hoàn toàn mới với công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí chế tạo.
Bà dẫn chứng đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam không chỉ là dự án giao thông có quy mô lớn nhất trong lịch sử nước ta mà còn là cơ hội lớn để nâng cấp năng lực công nghiệp quốc gia. Dự án này đòi hỏi thép ray chất lượng cao, thép cầu đặc chủng, bê tông tính năng cao, vật liệu giảm rung, giảm chấn, hệ thống điện khí hóa, tín hiệu điều khiển tự động và nhiều loại thiết bị cơ khí chính xác.
"Câu hỏi đặt ra là Việt Nam có thể tham gia ở mức độ nào vào chuỗi giá trị của các dự án này, có thể nội địa hóa những công đoạn nào và cần chuẩn bị những gì để từng bước làm chủ công nghệ", Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đặt vấn đề.

Với điện hạt nhân yêu cầu đặt ra còn cao hơn, đó là tiêu chuẩn nghiêm ngặt về vật liệu, thép đặc chủng, hợp kim chịu nhiệt, vật liệu chống bức xạ... Bà Hải cho biết kinh nghiệm quốc tế, chương trình phát triển hạt nhân thường tạo ra động lực phát triển mạnh cho các ngành luyện kim, cơ khí chính xác.
Với công nghiệp bán dẫn, Việt Nam đứng trước cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, bán dẫn không chỉ là thiết kế chip hay thu hút đầu tư nước ngoài. Theo bà Hải, yêu cầu sâu xa đòi hỏi năng lực làm chủ vật liệu, thiết bị công nghệ cao, vật liệu bán dẫn thế hệ mới, vật liệu đóng gói chip, thiết bị sản xuất vật liệu bán dẫn... Đây là lĩnh vực Việt Nam cần có chiến lược đầu tư dài hạn.
Bên cạnh đó, cạnh tranh công nghiệp toàn cầu ngày càng gay gắt, vấn đề vật liệu chiến lược đang được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm. Các vật liệu phục vụ cho AI, robot, năng lượng mới, quốc phòng an ninh, hàng không vũ trụ, công nghệ lượng tử, công nghệ số đang ngày càng đóng vai trò quyết định với năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo bà, có một số điểm nghẽn lớn đó là thiếu chiến lược quốc gia tổng thể về công nghiệp vật liệu; hệ thống thể chế chính sách còn phân tán, thiếu đồng bộ; thiếu các doanh nghiệp dẫn dắt; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng mong muốn, thiếu chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài.
Ngoài ra bà Hải cũng chỉ ra sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh còn lỏng lẻo, có khoảng cách lớn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

