Kỷ lục phá vỡ các kỷ lục

Đã từng là nạn nhân trận lũ lịch sử năm 1999 ở Huế, nhưng với tôi, 33 ngày (kể từ 22/10/2025) đi theo bão lũ miền Trung là khoảng thời gian thử thách tận cùng cảm xúc. 

Cảm giác “người đơ ra” khi thủy điện sông Ba Hạ xả lũ lên đến 14.740m³/s, rồi lên 16.100m³/s chỉ sau 3 tiếng đồng hồ... Có những lúc căng thẳng cực độ kéo dài. Điện thoại không ngừng rung lên những tin nhắn kêu cứu. Đọc đến đâu, run đến đó. Tôi cố giữ cho tinh thần ổn định, nhưng phải thừa nhận rằng cảm giác đó là thứ gây tổn thương tinh thần ghê gớm nhất. 

Thạch Thảo.jpg
Hàng trăm nghìn ngôi nhà ở Thái Nguyên bị ngập trong đợt lũ kỷ lục hồi đầu tháng 10/2025. Ảnh: Thạch Thảo

Năm 2025, thiên tai và thời tiết cực đoan trải dài từ Bắc vào Nam, thiệt hại kinh tế ước tính 100.000 tỷ đồng theo thống kê trước mắt; sản xuất bị gián đoạn và phải mất nhiều năm mới phục hồi lại được. 

Năm 2025 ghi nhận kỷ lục về số xoáy thuận nhiệt đới hình thành, di chuyển trên biển Đông và vào đất liền với 21 xoáy thuận, vượt kỷ lục của năm 2017. Bão số 3 với hoàn lưu mưa lớn khiến mực nước hồ Bản Vẽ vượt mức lũ kiểm tra và vượt tần suất lũ 5.000 năm - gây ra trận lụt kinh hoàng ở phía Tây Nghệ An. Bão số 10 lịch sử có tổng thời gian quần thảo trên đất liền lâu nhất, ngay sau đó là hoàn lưu bão số 11 gây lụt lịch sử ở Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh và Hà Nội. 

Năm 2025 cũng ghi nhận những trận lụt lớn phá vỡ các đỉnh lũ từ thế kỷ trước. Mực nước sông Vu Gia ở Quảng Nam vượt đỉnh lũ lịch sử năm 1964, mực nước sông Bồ ở Huế vượt đỉnh lũ năm 1999. Gần cuối năm, chúng ta lại phải đối diện với lũ lớn chưa từng có ở Đắk Lắk (phần Phú Yên cũ), Khánh Hòa và Lâm Đồng.

Khi thiên tai vượt ngưỡng chịu đựng

Trong lý thuyết về phòng chống thiên tai, một khu vực được cho là có khả năng chống chịu khi hệ sinh thái, cơ sở hạ tầng và kiến thức của người dân nơi đó đủ sức chống chịu. Nhưng khi lượng mưa lớn hơn 1.000 mm/48 giờ thì hầu hết các hạ tầng khó chống chịu lại được với lũ lụt. 

Sự vượt ngưỡng của thiên tai cực đoan thể hiện rất rõ ở số liệu đo mưa trong tháng 10 và tháng 11. Tại đỉnh Bạch Mã ghi nhận lượng mưa một ngày (từ 19h ngày 26 đến 19h ngày 27/10) là 1.739mm, gần bằng lượng mưa trung bình cả năm trên toàn lãnh thổ Việt Nam (1.400-2.400mm) và đây là lượng mưa trong 24 giờ lớn nhất trên thế giới ở thế kỷ 21 từng được ghi nhận cho đến nay. Lượng mưa còn kéo dài nhiều ngày và nhiều đợt, gây ra những hình thái đa thiên tai hết sức phức tạp, nguy hiểm, quá sức chịu tải. Khi phân tích, dự báo và theo dõi thiên tai ở Đắk Lắk, từ trước lúc lụt lên, tôi đã nhận định rằng đây là tổ hợp thiên tai nguy hiểm trăm năm mới lặp lại một lần. 

Các số liệu phân tích khoa học cho thấy rất rõ về mối tương quan giữa biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan. Thiên tai có xu hướng ngày càng tăng khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đang có xu hướng vượt ngưỡng cao hơn 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Sự chuyển pha liên tục giữa El Nino sang La Nina với các pha trung tính ngắn khiến cho khí quyển luôn ở trạng thái bất ổn định. Hệ thống gió mùa vốn dĩ được hình thành và “ghi nhớ” hàng triệu năm nay có xu hướng bị “mất trí nhớ” và luôn tạo ra những dải hội tụ bất thường của gió Đông Bắc, nhiễu động gió Đông gây mưa cực đoan, hoặc gió Tây Nam khô nóng gây hạn hán kéo dài. 

Lũ lụt và hạn hán sẽ xen kẽ nhau và cả hai đều có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam. Để thích ứng với thiên tai cực đoan, rất cần nâng cao ngưỡng thích ứng của hạ tầng và con người. 

Những việc cần làm ngay

Để bảo vệ các thành quả phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta bắt buộc phải thực hiện các hành động thích ứng biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai. Cần ưu tiên thực hiện sớm và thường xuyên những việc làm cấp thiết.

bao lu Huy Nguyen.jpg
Các lực lượng giúp người dân dọn dẹp, khắc phục hậu quả thiên tai. Ảnh: Thạch Thảo

Thứ nhất, lập kế hoạch ứng phó

Mỗi đơn vị, từ cấp thôn, xã đến cấp tỉnh cần lập kế hoạch ứng phó với thiên tai cực đoan theo từng kịch bản khác nhau, từng loại hình thiên tai khác nhau; có kế hoạch hành động và mức độ huy động nguồn nhân lực, vật lực tương ứng. Việt Nam có kinh nghiệm thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” nhưng vẫn cần chủ động hơn.

Thứ hai, phổ thông hóa các thông tin cảnh báo rủi ro thiên tai

Trong gần 20 năm làm công tác nghiên cứu quản lý rủi ro thiên tai, tôi nhận thấy nơi nào có thiên tai thường xuyên thì người dân ở đó có kinh nghiệm ứng phó tốt hơn. Vì vậy, công tác ứng phó ở giai đoạn chuẩn bị trước thiên tai như gia cố nhà cửa, kê cao đồ đạc, tìm đến nơi tránh trú an toàn… là quan trọng nhất.

Việc chuẩn bị này cần được thực hiện theo dự báo. Cần cụ thể hóa thông tin dự báo và cảnh báo. Người dân sẽ dễ hiểu hơn nếu được dự báo là bão có đi vào địa bàn của họ hay không, thay vì “sẽ đi vào tọa độ nào”. Đối với dự báo lũ trên sông, rất cần chuyển đổi các thông tin từ cấp báo động 1, 2, 3 thành dự báo mức lụt ở các khu dân cư. 

Thứ ba, hiện đại hóa công tác cảnh báo thiên tai

Hệ thống thông tin cảnh báo thiên tai đã được tích hợp trên web Hệ thống thông tin thiên tai Việt Nam https://vndms.dmc.gov.vn. Giờ đây, việc xây dựng các ứng dụng dự báo và cảnh báo thiên tai qua hệ thống điện thoại di động là cần thiết và đúng lúc. Cần đầu tư lắp đặt hệ thống giám sát mực nước bằng camera thời gian thực ở các hồ chứa, các hệ thống sông và xây dựng mô hình kịch bản ngập lụt dựa vào các mức lụt lịch sử và các yếu tố về khí tượng được dự báo. Ở những nơi có nguy cơ cao về bão lũ, cần lắp đặt hệ thống còi báo động lũ và bão. Chẳng hạn như còi báo động lũ lụt ở Huế và hệ thống theo dõi mực nước sông được tích hợp trong ứng dụng Hue-S ở Huế. 

Thứ tư, xây dựng các đội ngũ tình nguyện viên và nguồn lực cứu hộ, cứu nạn

Trong năm 2025, chúng tôi đã kịp thành lập một đội cứu hộ tạm gọi là “Đội ứng cứu thiên tai 3 miền” với khoảng 50 thành viên là những người lái cano, drone và người làm công tác hậu cần. Nguồn lực tình nguyện viên trong Nhân dân rất nhiều nhưng quá trình đó cũng phát sinh nhiều bất hợp lý. Chẳng hạn: chúng tôi phải điều xe tải chở những chiếc cano cách xa vùng lũ lụt hơn 500km trong khi ngay tại địa phương có rất nhiều cano và xuồng cứu hộ không được huy động. Có nơi sẵn cano nhưng không có người lái, có nơi có người lái, có cano nhưng không tổ chức được đội nhóm để cùng phối hợp. Vì vậy, ở mỗi địa phương thường xảy ra ngập lụt nên thành lập các đội cano cứu hộ, cứu nạn được tập huấn bài bản, được chính quyền địa phương công nhận, phối hợp. Các đội nhóm này cũng có thể tham gia trong một mạng lưới cứu hộ, cứu nạn quốc gia để điều động hỗ trợ lẫn nhau. 

Thứ năm, xây dựng kịch bản cứu trợ và phục hồi sau thiên tai

Tình tương thân, tương ái của đồng bào ta rất lớn nhưng việc thiếu một kịch bản cứu trợ tổng thể đã khiến công việc này trở nên thiếu hiệu quả. Có nơi nhận được rất nhiều đồ cứu trợ vì xuất hiện nhiều trên truyền thông về mức độ thiệt hại. Trong khi cách đó chỉ 5km là những khu vực chẳng được đoàn từ thiện nào ghé đến. Nơi thừa, nơi thiếu, việc lựa chọn nhu yếu phẩm không phù hợp hay công tác tổ chức logistics sai cũng gây ra lãng phí. 

Ngoài chuẩn bị kịch bản ứng phó và phục hồi, ngay sau khi thiên tai xảy ra, các địa phương cần có bộ công cụ đánh giá nhanh về nhu cầu khẩn cấp và điều chỉnh kịch bản ứng phó. Các nhu cầu đó cần được chia sẻ và cập nhật thời gian thực trên một nền tảng online minh bạch để các đoàn từ thiện có thể tiếp cận.

Cùng với sự tác động của thiên tai cực đoan, con người cũng góp phần khi chặt phá rừng, phát thải ô nhiễm và đang thu hẹp không gian sống an toàn của mình. Những sự kiện thiên tai cực đoan liên tiếp khiến chúng ta phải đặt câu hỏi liệu khi nào không phải lo lắng về nguy cơ bão lụt. Chúng ta có thể nâng cao nền cho căn nhà để tránh lụt - nhưng đó mới chỉ là thích ứng tự phát, “nước nổi thì bèo nổi”. Cách thích ứng lâu dài hơn là cần nhìn rộng ra khỏi căn nhà của mình và hành động để trồng mới, để bảo vệ những cánh rừng, giữ lại từng cái cây, hồ nước và dòng sông và thông qua đó bảo vệ không gian sống của mình một cách hài hoà với thiên nhiên.

Trong các chương trình xuyên suốt từ lũ lụt ở Thái Nguyên đến lũ lụt ở Nam Trung Bộ, điều khiến tôi nể phục người Việt mình nhất là sự kiên cường và nghĩa tình đồng bào. Có nơi vừa mới bị ngập lụt lịch sử xong tưởng chừng như không gượng dậy được như Thanh Hóa, Thái Nguyên, Huế, Quảng Nam… thì chính họ lại tiên phong cứu trợ những vùng thiên tai mới.