
Tại buổi tiếp xúc cử tri 10 phường của thành phố Hà Nội vào ngày 4/5 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gợi mở về tư duy quản trị đô thị và kiến tạo xã hội: Hà Nội cần nghiên cứu, thí điểm xây dựng mô hình "phường xã hội chủ nghĩa" hoặc "xã xã hội chủ nghĩa".
Đáng chú ý, quy mô của đơn vị hành chính cấp cơ sở này được định hình ở mức chưa từng có trong tiền lệ tổ chức lãnh thổ của Việt Nam, với dân số dự kiến từ 500 nghìn đến 1 triệu người.
Trong bối cảnh hiện nay, mô hình phường xã hội chủ nghĩa chính là "sandbox" rất quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu của chế độ chúng ta.
Từ Cương lĩnh đến thực tiễn cách mạng
Từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu chiến lược và lý tưởng cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lịch sử Đảng là một quá trình không ngừng nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Công cuộc Đổi mới khởi xướng từ Đại hội 6 (năm 1986) là một bước ngoặt quan trọng khi Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, từ đó dần thừa nhận và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Suốt nhiều thập kỷ qua, có một câu hỏi tất yếu được đưa ra: Thời kỳ quá độ sẽ kéo dài bao lâu và chủ nghĩa xã hội khi hoàn thiện sẽ như thế nào? Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một câu trả lời dứt khoát mang tính chiến lược: Mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, và đó có thể là thời điểm kết thúc thời kỳ quá độ để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, mô hình "phường xã hội chủ nghĩa" được đề xuất không phải là một sự lặp lại của các mô hình công xã hay các mô hình hợp tác xã trước đây mà là sự hội tụ tinh hoa của nền kinh tế thị trường hiện đại kết hợp với những giá trị nhân văn của chủ nghĩa xã hội.
Nếu không có những không gian thực nghiệm ở cấp cơ sở để kiểm chứng các cơ chế quản trị, an sinh, giáo dục và y tế của chủ nghĩa xã hội vào năm 2045 thì chúng ta sẽ thiếu đi những dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện thể chế trên quy mô toàn quốc.
Phường 1 triệu dân: Cuộc cách mạng về quy hoạch và quản trị hành chính
Sự chú ý đặc biệt của nhân dân còn liên quan tới việc quy mô hành chính cấp phường, hiện tại ở Việt Nam thường chỉ dao động từ 15-50 nghìn dân. Một "phường" với 1 triệu dân sẽ tương đương với quy mô của một tỉnh nhỏ trước đây và gắn với những chỉ đạo quyết liệt của Đảng ta về việc xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Giáo sư Zachary Abuza từ Đại học Georgetown nhận định rằng việc Việt Nam chủ trương sáp nhập hàng loạt bộ ngành, giảm gần 50% số lượng tỉnh thành (từ 63 xuống còn 34) và đặc biệt là việc xóa bỏ một cấp hành chính trung gian (cấp quận/huyện) là một cuộc cải cách mang tính lịch sử.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu sống còn, đó là mọi vấn đề phải được giải quyết dứt điểm tại cấp xã, phường; tuyệt đối không yêu cầu người dân phải kiến nghị vượt cấp lên thành phố hay các bộ ngành trung ương. Thẩm quyền phải được phân cấp rõ ràng, gắn với thời hạn thực thi nghiêm ngặt, triệt tiêu mọi khoảng trống cho sự chậm trễ và đùn đẩy trách nhiệm. Sự tinh gọn ở đây không có nghĩa là làm suy yếu vai trò của chính quyền cơ sở mà ngược lại, dồn toàn bộ nguồn lực và thẩm quyền cao nhất để cấp cơ sở đủ sức giải quyết những nhu cầu phức tạp nhất của công dân.
Với nền tảng từ Luật Thủ đô (sửa đổi), Hà Nội có đủ cơ sở pháp lý để kiến tạo những quy hoạch mang tính vượt thời đại.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra một câu hỏi đầy sức nặng về di sản: Nếu những công trình do người Pháp xây dựng từ hơn một thế kỷ trước vẫn đang được sử dụng thì thế hệ người Việt Nam hôm nay sẽ để lại di sản gì cho 100 năm sau?
Một phường xã hội chủ nghĩa quy mô 1 triệu dân nếu được xây mới hoàn toàn sẽ phải là một quy hoạch gần như hoàn hảo. Nó đòi hỏi một hệ thống cơ sở hạ tầng được thiết kế đồng bộ từ đầu, khắc phục triệt để các vấn đề của đô thị hiện đại như ùn tắc giao thông, ngập lụt, ô nhiễm môi trường. Việc khai thác không gian ngầm để phát triển hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn, tích hợp với cảnh quan sinh thái trên mặt đất sẽ biến nơi đây thành một đô thị thông minh mang chuẩn mực toàn cầu.
Sự khác biệt cốt lõi giữa một siêu đô thị tư bản chủ nghĩa và một "phường xã hội chủ nghĩa" nằm ở mục đích của sự phát triển. Trong mô hình mới, sự tăng trưởng kinh tế hay sự vĩ đại của các công trình hạ tầng không phải là mục đích tự thân mà là phương tiện để kiến tạo hạnh phúc cho con người. Chủ nghĩa xã hội ở đây phải được cảm nhận qua việc trẻ em đi học ra sao, người già được chăm lo y tế thế nào và môi trường sống có thực sự an toàn hay không.

Điểm nhấn mang tính cách mạng là mỗi công dân trong phường sẽ sở hữu một "hồ sơ sức khỏe điện tử" được lập ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời. Hồ sơ này liên thông mọi dữ liệu về tiền sử bệnh lý, quá trình tiêm chủng và phác đồ điều trị trong suốt cuộc đời, cho phép hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe một cách chủ động, cá nhân hóa và toàn diện. Và phải giải quyết được vấn đề an toàn thực phẩm.
Trong một không gian xã hội chủ nghĩa, những nguy cơ đe dọa sinh mệnh và sự phát triển của thế hệ tương lai như vậy sẽ bị loại trừ triệt để thông qua các công cụ giám sát thông minh và kỷ cương pháp luật nghiêm minh.
Để duy trì một siêu phường với hệ thống an sinh xã hội đồ sộ và hạ tầng thông minh, nền tảng kinh tế phải vô cùng vững chắc. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa vào năng suất lao động, khoa học công nghệ, kinh tế tri thức và khu vực tư nhân lớn mạnh.
Chúng ta cũng phải tiết kiệm không gian đô thị bằng quy hoạch thông minh; tiết kiệm thời gian của người dân bằng việc xóa bỏ thủ tục hành chính rườm rà; tiết kiệm ngân sách thông qua việc loại bỏ các dự án treo, kém hiệu quả. Nguồn lực khổng lồ được giải phóng từ việc chống lãng phí sẽ được tái đầu tư trực tiếp vào các hệ thống phúc lợi xã hội của phường, đảm bảo tính bền vững của các chính sách an sinh.
Tính thực tiễn của một tầm nhìn
Bên cạnh đó, còn có góc nhìn cho rằng chủ nghĩa xã hội kinh điển đòi hỏi phải xóa bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu, thay thế bằng công hữu và nghi ngờ liệu việc áp dụng mô hình này vào không gian đô thị có đồng nghĩa với việc xóa bỏ kinh tế tư nhân hay quay lại thời kỳ hợp tác xã kiểu cũ hay không?
Chúng ta thấy rõ rằng việc xây dựng phường xã hội chủ nghĩa hoàn toàn không phải là bước lùi về kinh tế chỉ huy, càng không phải là sự tước đoạt tư liệu sản xuất của người dân. Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát, trong đó kinh tế tư nhân là động lực quan trọng.
Tính "xã hội chủ nghĩa" của mô hình này nằm ở năng lực điều tiết của nhà nước pháp quyền, năng lực phân phối lại của cải xã hội thông qua các thiết chế phúc lợi và việc đặt con người lên vị trí trung tâm của sự phát triển.
Một phường quản trị hiệu quả, an ninh tuyệt đối, người dân được chăm lo y tế, giáo dục chu đáo, doanh nghiệp cạnh tranh công bằng, phát triển kinh tế xanh, bền vững - đó chính là biểu hiện sinh động nhất của chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 21 và đập tan mọi lý thuyết suông bằng những giá trị thực chứng có thể hưởng thụ được.
Bên cạnh đó, việc trao quyền tự chủ mạnh mẽ cho một bộ máy cấp cơ sở quản lý tới 1 triệu dân chính là hình thái dân chủ trực tiếp sâu sắc nhất. Khi chính quyền phải chịu trách nhiệm giải trình tuyệt đối trước dân, lấy sự hài lòng của doanh nghiệp và người dân làm thước đo năng lực, điều đó chứng minh rằng hệ thống chính trị Việt Nam có đủ độ linh hoạt, khả năng tự điều chỉnh và năng lực quản trị vượt trội để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới.
Thành công của mô hình này tại Thủ đô Hà Nội chắc chắn sẽ tạo ra một cú hích đột phá, định hình lại toàn bộ tư duy quy hoạch và quản trị quốc gia, đưa con tàu Việt Nam vượt mọi thách thức, vươn mình rực rỡ trong thế kỷ 21.

