Lời tòa soạn: Câu chuyện tổ chức bộ máy và con người ở cấp xã là một trong những vấn đề đặt ra đối với chính quyền địa phương 2 cấp sau một năm vận hành. Đây cũng là vấn đề mà nhiều địa phương quan tâm và có kiến nghị để vận hành hiệu quả, nâng cao chất lượng quản trị và bảo đảm năng lực thực thi của chính quyền địa phương 2 cấp như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu.

VietNamNet tổ chức loạt bài “Định vị lại cấp xã trong chính quyền địa phương 2 cấp” ghi nhận thực tế về tổ chức bộ máy và con người ở cấp xã cũng như các kiến nghị, giải pháp để chính quyền địa phương 2 cấp vận hành hiệu quả, hiệu lực hơn trong thời gian tới. 

Sơ kết 1 năm vận hành, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp tại TPHCM thể hiện rõ qua kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026.

Hầu hết các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thu ngân sách nhà nước, xây dựng Đảng của thành phố có kết quả đạt và vượt. Bộ mặt đô thị thành phố, hạ tầng đô thị đổi thay nhanh chóng. Công tác an sinh xã hội được thực hiện tốt. 

Trong đó, TPHCM đã triển khai thực hiện một số chính sách mới mang lại hiệu quả thiết thực như: tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho nhân dân, miễn phí xe buýt; triển khai xây dựng, cải tạo công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân; đẩy nhanh tiến độ thực hiện ít nhất 200 công trình, dự án trọng điểm chào mừng các kỳ đại hội và ngày lễ lớn; chăm lo toàn diện cho người có công, hộ nghèo và công nhân - lao động... 

Thành phố cũng đạt được nhiều kết quả rất tích cực về hiệu quả vận hành tổ chức bộ máy chính quyền thành phố và cấp xã...

VietNamnet trao đổi với TS Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TPHCM về những vấn đề đặt ra với TPHCM sau 1 năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.

TS Tran Quang Thang.jpg
TS Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và quản lý TPHCM. Ảnh: TL

Nhiều tín hiệu tích cực nhưng vẫn còn thách thức đan xen 

Sau 1 năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, ông nhận định thế nào về những tác động của mô hình này đối với sự phát triển của TPHCM?

Nhìn tổng thể sau 1 năm, mô hình 2 cấp đang tạo ra những tác động nhiều chiều ở cả 2 mảng kinh tế và xã hội.

Về kinh tế, tôi cho rằng có những tín hiệu tích cực đáng ghi nhận. Thành phố có điều kiện mở rộng không gian phát triển và tăng tốc nhờ khả năng điều phối vùng được cải thiện so với trước đây, khi 3 địa phương còn hoạt động hoàn toàn độc lập. Hạ tầng đang dần được kết nối theo hướng thống nhất hơn, tạo nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh ở một quy mô lớn hơn, tầm nhìn xa hơn.

Đồng thời, tiềm năng kinh tế của một siêu đô thị hơn 14 triệu dân với nền sản xuất công nghiệp và hệ thống cảng biển hiện đại là rất đáng kể, và mô hình 2 cấp đang tạo điều kiện để hiện thực hóa tiềm năng đó.

Tuy nhiên, về xã hội, áp lực cũng không nhỏ. Đó là bộ máy cơ sở đang bị quá tải ở nhiều nơi, trong khi chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ công chưa theo kịp quy mô dân số ngày càng tăng và tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ sau sáp nhập.

Người dân ở các khu vực ngoại vi, vùng mới sáp nhập chưa được hưởng lợi nhiều hơn do hạ tầng dịch vụ xã hội chưa được đầu tư tương xứng.

tphcm nguyen hue 4 2860.jpg

Sự chênh lệch giữa nhịp độ tăng trưởng kinh tế và khả năng đáp ứng dịch vụ xã hội là bài toán cần được giải quyết sớm, nếu không muốn để lại những hệ lụy về bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội và chất lượng sống giữa các vùng trong cùng một đô thị.

Theo ông, việc xây dựng không gian phát triển chung sau sáp nhập đặt ra những thách thức gì về quy hoạch và phân bổ nguồn lực, khi mỗi vùng vốn có thế mạnh và đặc thù riêng?

Đây là bài toán không đơn giản, với nhiều thách thức đan xen và bổ sung cho nhau, đòi hỏi tầm nhìn dài hạn cùng bản lĩnh quyết đoán trong điều hành.

Thách thức đầu tiên đến từ chính sự khác biệt giữa 3 vùng. TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu có thế mạnh và đặc thù hoàn toàn khác nhau về cơ cấu kinh tế, hạ tầng, dân cư và văn hóa quản trị địa phương.

Sự khác biệt này, nếu không được điều phối khéo léo, rất dễ dẫn đến sự phức tạp về định hướng phát triển, khi mỗi vùng có xu hướng muốn ưu tiên cho thế mạnh của mình mà không nhìn theo lợi ích toàn vùng. 

Theo tôi, để không gian chung của vùng sau sáp nhập - từ hạ tầng giao thông, khu thương mại tự do đến hệ thống metro liên vùng - thực sự trở thành động lực tăng trưởng, điều kiện tiên quyết là phải thiết lập được một cơ chế điều phối vùng có quyền lực thực chất, đủ mạnh để thống nhất quy hoạch, đầu tư và vận hành hạ tầng liên vùng. 

Chỉ khi đó, toàn bộ không gian chung mới có thể hoạt động như một hệ sinh thái kinh tế thống nhất thay vì chỉ là sự ghép nối hành chính rời rạc. Nếu thiếu cơ chế này, dù có metro, có khu thương mại tự do hay bất kỳ công trình hạ tầng quy mô nào, tất cả vẫn chỉ là những mảnh ghép không kết nối, không thể tạo ra hiệu ứng cộng hưởng thực sự cho tăng trưởng toàn vùng.

Về mặt quy hoạch, hệ thống quy hoạch cũ của từng địa phương vốn được xây dựng độc lập, không ít chỗ chồng lấn và mâu thuẫn nhau, khiến việc tích hợp thành một bản đồ không gian thống nhất trở nên hết sức phức tạp. Đây không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là bài toán chính trị, khi mỗi địa phương đều có những lợi ích đã được bảo vệ trong quy hoạch cũ.

Về nguồn lực, có một xu hướng tự nhiên và khó tránh là vốn đầu tư sẽ dồn về đô thị lõi - nơi có hạ tầng tốt hơn, thị trường lớn hơn và sinh lời nhanh hơn - tạo ra sự mất cân đối giữa các khu vực trong vùng. Nếu không có cơ chế phân bổ chủ động, khoảng cách phát triển nội vùng sẽ ngày càng giãn ra. 

Bên cạnh đó, mỗi vùng có những ưu tiên đầu tư riêng xuất phát từ nhu cầu thực tế của mình, làm cho việc xác định thứ tự ưu tiên đầu tư chung trở nên phức tạp, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.

Cuối cùng, theo tôi, khoảng cách về hạ tầng và năng lực quản lý giữa các địa phương cũng tạo ra độ trễ đáng kể khi triển khai quy hoạch tích hợp trên thực địa. Chúng ta không thể áp dụng cùng một tiêu chuẩn và cùng một tốc độ cho những vùng có điểm xuất phát chênh lệch nhau rõ rệt.

Bộ máy không theo kịp, cấp xã sẽ bị quá tải

Trong bối cảnh việc sáp nhập tạo ra một đô thị đặc biệt có quy mô chưa từng có, ông lo ngại nhất điều gì khi vận hành bộ máy chính quyền 2 cấp trong giai đoạn chuyển tiếp?

Điều tôi lo ngại nhất là năng lực thực tế của bộ máy hiện tại chưa theo kịp quy mô và độ phức tạp của một đô thị siêu lớn vừa được hình thành. Khi bộ máy không theo kịp, cấp xã sẽ bị quá tải và hệ thống có nguy cơ vận hành chệch choạc ngay trong năm chuyển tiếp - giai đoạn quan trọng nhất.

Cụ thể, khi cấp xã phải gánh khối lượng công việc của một đô thị siêu lớn trong khi năng lực, biên chế và quy trình vẫn vận hành theo mô hình cũ thì tình trạng ùn tắc trong giải quyết công việc là gần như không thể tránh khỏi. Người dân và doanh nghiệp sẽ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất.

Bên cạnh đó, nguy cơ chậm trễ trong điều phối là rất thực tế khi 3 vùng với 3 văn hóa quản lý khác nhau chưa quen vận hành dưới một trung tâm quyền lực thống nhất, trong khi các cơ chế điều phối mới còn đang trong quá trình hình thành.

Hệ thống dữ liệu và hạ tầng số chưa đồng bộ giữa các vùng sẽ gây tắc nghẽn trong xử lý các công việc liên vùng - từ quản lý đất đai, đăng ký doanh nghiệp đến điều phối hạ tầng giao thông.

Ngoài ra, khi các địa phương vẫn còn giữ thói quen và phản xạ "tự quyết theo lợi ích riêng" từ thời chưa sáp nhập, rắc rối về quy hoạch và ưu tiên đầu tư có thể xảy ra trong giai đoạn chuyển tiếp.

Cuối cùng, và cũng là điều tôi quan tâm đặc biệt, đó là khoảng trống pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp.

Khi hệ thống pháp luật cũ chưa được thay thế hoàn toàn bởi khung pháp lý mới, nhiều dự án và thủ tục sẽ lâm vào tình trạng không biết áp dụng quy định nào, dẫn đến đình trệ.

5 nhóm công cụ pháp lý then chốt cần trao cho chính quyền địa phương 2 cấp

Tôi cho rằng có 5 nhóm công cụ pháp lý then chốt mà Luật Đô thị đặc biệt tới đây cần trao cho mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, để đảm bảo toàn vùng vận hành thống nhất thay vì “mạnh ai nấy làm”. 

Nhóm thứ nhất là quyền lập và phê duyệt quy hoạch tích hợp cấp vùng, cho phép cấp thành phố ban hành một bản quy hoạch không gian chung bao trùm toàn bộ khu vực sau sáp nhập, có giá trị cao hơn mọi quy hoạch ngành và quy hoạch địa phương. 

Tiếp theo là cơ chế điều phối vùng có tính bắt buộc, thông qua việc thành lập Hội đồng Điều phối vùng với quyền ràng buộc pháp lý về phân bổ đất đai, hạ tầng, giao thông, môi trường và logistics mà các địa phương phải tuân thủ. 

Một nhóm công cụ pháp lý nữa là quyền phân bổ và điều tiết nguồn lực tập trung, cho phép thành phố quyết định phân bổ ngân sách, đầu tư công và quỹ đất chiến lược theo lợi ích toàn vùng, không bị ràng buộc bởi ranh giới hành chính cũ. 

Bên cạnh đó là cơ chế chia sẻ dữ liệu và nền tảng số thống nhất, bắt buộc các địa phương sử dụng chung hệ thống dữ liệu về đất đai, dân cư, đầu tư và hạ tầng, tránh tình trạng mỗi nơi một phần mềm, một tiêu chuẩn. 

Ngoài ra còn cần quyền kiểm tra, giám sát và đình chỉ quy hoạch cục bộ, cho phép cấp thành phố can thiệp, điều chỉnh hoặc đình chỉ các quy hoạch, dự án của địa phương nếu gây xung đột với không gian phát triển chung.