
Theo phản ánh của một công dân, gia đình có thửa đất diện tích 112,2m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 2021.
Hiện nay, người dân có nhu cầu xác định mốc giới thửa đất để phục vụ việc xây dựng nhà ở. Tuy nhiên, khi liên hệ với UBND xã và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, người dân đều nhận được câu trả lời "không có thẩm quyền xác định mốc giới thửa đất".
Công dân thắc mắc, theo quy định pháp luật hiện hành, cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền hoặc trách nhiệm xác định, cắm mốc giới thửa đất đối với trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Thủ tục thực hiện ra sao để được xác định mốc giới đúng quy định?

Trả lời về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai năm 2024, người sử dụng đất phải có trách nhiệm sử dụng đất đúng ranh giới, mốc giới thửa đất.
Việc khai thác thông tin đất đai được thực hiện theo Điều 60 Nghị định 101/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai.
Theo đó, điểm b khoản 6 Điều 60 Nghị định số 101/2024 quy định, cơ quan cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai ở địa phương là Văn phòng đăng ký đất đai.
Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Văn phòng đăng ký đất đai, UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính theo phân cấp quản lý hồ sơ địa chính.
Việc thực hiện quản lý hồ sơ địa chính được quy định tại Điều 23 Thông tư số 10/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Trong đó, quy định từng trường hợp cụ thể hồ sơ địa chính được lưu ở các cơ quan gồm: Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, UBND xã.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị công dân liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được giải quyết theo quy định.
Bộ cũng lưu ý, trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết thủ tục hành chính, công dân có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định tại Điều 237 Luật Đất đai.
|
Quy định về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai tại Điều 60 Nghị định 101/2024 Tổ chức và cá nhân khi có nhu cầu khai thác thông tin, dữ liệu đất đai theo hình thức trực tiếp nộp phiếu yêu cầu theo Mẫu số 13/ĐK ban hành kèm theo Nghị định này hoặc gửi văn bản yêu cầu cho cơ quan cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai hoặc hợp đồng. Thông tin, dữ liệu đất đai sau khi được cung cấp chỉ được sử dụng đúng mục đích đã đăng ký, không được sử dụng sai hoặc chia sẻ cho mục đích khác. Người dân hiện có nhiều lựa chọn trong việc nộp hồ sơ. Ngoài nộp trực tiếp tại cơ quan chức năng hoặc gửi qua đường bưu chính, có thể thực hiện trực tuyến qua Cổng thông tin đất đai quốc gia, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) hoặc Cổng dịch vụ công cấp tỉnh. Sau khi tiếp nhận yêu cầu, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai sẽ tiến hành xử lý và thông báo mức phí hoặc giá dịch vụ cho người yêu cầu. Trường hợp từ chối cung cấp thông tin, cơ quan này phải trả lời rõ lý do trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu. Sau khi người dân hoàn thành nghĩa vụ tài chính, việc cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được thực hiện. Thời gian xử lý phụ thuộc vào tình trạng sẵn có của dữ liệu. Nếu thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu, việc cung cấp có thể được thực hiện ngay trong ngày làm việc. Trường hợp tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ thì kết quả sẽ được trả vào ngày làm việc tiếp theo. Đối với các dữ liệu không có sẵn trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, thời gian cung cấp tối đa là 3 ngày làm việc. Trong một số trường hợp cần thêm thời gian để tổng hợp, xác minh hoặc lấy ý kiến từ các cơ quan liên quan, thời hạn này có thể được gia hạn nhưng không vượt quá 15 ngày làm việc. Nếu hai bên có thỏa thuận riêng thì thời gian cung cấp sẽ thực hiện theo nội dung đã ký kết. Về cơ quan thực hiện, tại trung ương, việc cung cấp dữ liệu đất đai do Trung tâm Dữ liệu và Thông tin đất đai đảm nhiệm. Ở địa phương là Văn phòng đăng ký đất đai. Trong trường hợp địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh, cơ quan này sẽ phối hợp với UBND cấp xã để cung cấp thông tin từ hồ sơ địa chính hiện có. |


