
Sau khi vợ tôi sinh cậu con trai nhỏ được một thời gian, gia đình chúng tôi thuê người đến tắm cho cháu hằng ngày qua một công ty dịch vụ. Với một em bé sơ sinh, điều khiến chúng tôi yên tâm không chỉ là kỹ năng của người trực tiếp chăm sóc mà còn là việc phía sau chị có một công ty chịu trách nhiệm, có hợp đồng và thông tin nhân thân rõ ràng.
Làm được một thời gian, người phụ nữ tắm cho cháu nói với vợ tôi rằng nếu gia đình thuê trực tiếp chị thì giá sẽ rẻ hơn. Như vậy, chị nhận được nhiều hơn còn gia đình chúng tôi phải trả ít hơn khi không thông qua công ty ở giữa nữa.
Nếu chỉ xét về kinh phí, đó là một đề nghị có lợi cho cả hai bên. Nhưng hai vợ chồng chúng tôi sau khi suy nghĩ vẫn từ chối. Không phải vì chúng tôi nghi ngờ chị mà bởi chúng tôi không muốn đánh đổi chất lượng, an toàn và sức khỏe của con mình bằng một khoản tiết kiệm chi phí chưa có sự bảo đảm chắc chắn.
Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy trong một chuyện gia đình rất nhỏ ấy đã có gần như đầy đủ bài toán của thị trường lao động hôm nay: người sử dụng cần sự an tâm, doanh nghiệp cần chi phí để duy trì hệ thống, còn người trực tiếp lao động mong phần thu nhập từ công sức của mình đến với mình nhiều hơn.
Khi quan hệ giữa doanh nghiệp và người trực tiếp làm việc khác trước
Câu chuyện ấy ngày càng quen thuộc khi cách con người kiếm sống thay đổi rất nhanh. Người lái xe công nghệ, người giao hàng (shipper), người giúp việc, lao động thời vụ hay người nhận việc qua ứng dụng không còn là một nhóm nhỏ bên lề nền kinh tế. 6 tháng đầu năm nay, Việt Nam có 52,6 triệu người có việc làm, nhưng tỷ lệ việc làm phi chính thức là 61,9%.

Cuối tháng 8 vừa qua, trong buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu “chính sách an sinh phải theo người lao động, không bị gián đoạn bởi nơi cư trú hay loại hình việc làm”. Trước đó, phát biểu chỉ đạo phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7, ông đã nhấn mạnh tăng trưởng chỉ có ý nghĩa khi đi cùng việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế và môi trường sống tốt hơn.
Đặt bên cạnh Nghị quyết 57 về chuyển đổi số, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 66 về xây dựng, thi hành pháp luật, yêu cầu ấy rõ ràng không chỉ là phát triển nhanh hơn mà còn phải để thành quả phát triển đi tới đời sống người lao động.
Ngày 8/9 vừa qua, Ủy ban cạnh tranh quốc gia cũng đã yêu cầu một hãng gọi xe công nghệ cung cấp thông tin về giá cước, phí, chiết khấu và các khoản khấu trừ sau khi nhận phản ánh của một số đối tác tài xế. Một số doanh nghiệp gọi xe khác cũng được đề nghị cung cấp tài liệu để đối chiếu. Cơ quan quản lý vẫn đang rà soát, chưa kết luận có vi phạm. Nhưng khi giá chuyến đi, cách phân việc, mức thưởng hay khả năng tiếp cận khách hàng ngày càng được quyết định qua nền tảng số, quan hệ giữa doanh nghiệp và người trực tiếp làm việc đã khác trước.
Nhiều nước cũng đang phải trả lời câu hỏi ấy, nhưng không chọn cùng một cách.
Singapore đi theo hướng khá thực dụng. Từ ngày 1/1/2025, Platform Workers Act đã tạo một địa vị riêng cho tài xế gọi xe và người giao hàng qua nền tảng. Họ không mặc nhiên trở thành nhân viên của doanh nghiệp nền tảng nhưng vẫn được bảo vệ khi gặp tai nạn trong lúc làm việc.
Người lao động và doanh nghiệp nền tảng cùng tham gia đóng góp vào Quỹ Tiết kiệm Trung ương (CPF) - hệ thống an sinh của Singapore dành cho nhà ở, chăm sóc y tế và tuổi già. Tài xế và người giao hàng cũng có thể tham gia các hiệp hội đại diện để thương lượng với doanh nghiệp về điều kiện làm việc, quyền lợi và giải quyết tranh chấp.
Liên minh châu Âu (EU) cũng bắt đầu siết lại cách các nền tảng sử dụng thuật toán để quản lý người lao động. Theo Chỉ thị 2024/2831, nếu một ứng dụng quyết định ai được nhận việc, giá công việc được tính thế nào, tài khoản bị hạn chế trong trường hợp nào thì người lao động phải được biết những nguyên tắc cơ bản ấy và có quyền yêu cầu giải thích khi quyết định của hệ thống ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của mình.
Ở Úc, thay vì buộc tất cả người làm việc qua nền tảng phải trở thành nhân viên, nước này xác định một nhóm “employee-like worker” - về danh nghĩa là lao động độc lập nhưng có ít khả năng tự quyết giá và điều kiện làm việc. Từ tháng 8 năm nay, một số lao động giao hàng thuộc nhóm này được áp dụng sàn thu nhập tối thiểu cùng các quy định về bảo hiểm, thông tin và giải quyết tranh chấp. Cách làm này vừa giữ tính linh hoạt, vừa tránh để người lao động phải tự gánh toàn bộ rủi ro.
Tháng 6, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc về lao động và việc làm - đã thông qua Công ước số 193 về kinh tế nền tảng. Công ước đề cập các vấn đề từ thu nhập, an sinh, an toàn lao động đến quyền đại diện và quản lý bằng thuật toán. Tuy quy định này chưa áp dụng ở Việt Nam nhưng là một chuẩn mực quốc tế mới đáng tham khảo khi chúng ta hoàn thiện chính sách.
Ở Việt Nam, chúng ta đã có những bước tiến mạnh mẽ. Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định rằng dù thỏa thuận mang tên gọi khác, nếu có việc làm trả công và có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn có thể được coi là hợp đồng lao động.
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, mở rộng diện bắt buộc tới những nhóm khác có việc làm và thu nhập ổn định, thường xuyên. Luật Việc làm 2025 thì mở một cánh cửa tương tự với bảo hiểm thất nghiệp. Người làm việc không theo hợp đồng có thể tham gia bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện theo Nghị định 143/2024/NĐ-CP. Còn Luật Công đoàn 2024 đã mở quyền tham gia công đoàn cho người không có quan hệ lao động.
Vấn đề ở đây nằm ở việc đồng bộ giữa các quy định này khi trong một cuộc đời, một người lao động có thể phải trải qua nhiều hình thức việc làm.
Nếu một người chuyển từ chạy xe công nghệ sang giao hàng, rồi sang làm tự do hoặc vào doanh nghiệp mà thời gian đóng bảo hiểm và quyền lợi an sinh không được nối tiếp, thì mỗi lần đổi việc họ lại phải bắt đầu gần như từ đầu. Khi ấy, cái giá của một thị trường lao động linh hoạt lại rơi nhiều nhất vào chính người lao động.

Bởi vậy, chúng ta cần làm cho những chế độ đang có đi theo con người. Thời gian tham gia và quyền lợi an sinh cần được tích lũy qua nhiều công việc, nền tảng và hình thức hợp đồng...
Người lao động và quyền được thông tin
Nhưng an sinh không chỉ là bảo hiểm hay những khoản đóng góp. Với lao động cơ bản còn có một quyền ngày càng quan trọng, đó là quyền được thông tin.
Nhà nước không cần quyết định thay doanh nghiệp một cuốc xe phải có giá bao nhiêu hay ứng dụng phải phân chuyến thế nào. Nhưng nếu thay đổi thuật toán có thể làm thu nhập của hàng vạn người đổi theo, hoặc một quyết định tự động có thể khóa phương tiện kiếm sống của một gia đình, người lao động cần được biết những nguyên tắc cơ bản tác động đến mình và có con đường khiếu nại rõ ràng.
Công nghệ vẫn có thể vận hành mà không biến thuật toán thành một “ông chủ” vô hình. Kinh nghiệm EU và Australia cho thấy tăng minh bạch và cơ chế giải quyết tranh chấp không đồng nghĩa với việc Nhà nước phải can thiệp vào từng quyết định kinh doanh.
Từ quyền được biết, câu chuyện đi tiếp tới quyền được nói.
Một tài xế đơn lẻ khó thương lượng với nền tảng đang nắm dữ liệu, khách hàng và cơ chế phân việc. Luật Công đoàn đã mở cánh cửa cho người lao động không có quan hệ lao động, việc còn lại là làm sao để cánh cửa ấy dẫn tới đối thoại thực chất, nơi những thay đổi lớn về giá, phí, điều kiện làm việc hay khóa tài khoản có thể được trao đổi trước khi thành xung đột.
Singapore đã để các tổ chức đại diện của lao động nền tảng tham gia thương lượng và giải quyết tranh chấp - một kinh nghiệm đáng để Việt Nam nghiên cứu.
Tất nhiên, bảo vệ người lao động không có nghĩa chúng ta buộc mọi hình thức việc làm mới quay về khuôn mẫu cũ. Nhiều người chọn chạy xe công nghệ vì cần sự linh hoạt, còn nền tảng mới cũng tạo ra dịch vụ và cơ hội kiếm sống. Chính sách phải giữ khoảng thở cho đổi mới nhưng không để phần lớn rủi ro dồn về phía người có vị thế thương lượng yếu hơn.
Tôi vẫn nhớ người phụ nữ từng tắm cho con mình năm ấy. Nếu gia đình tôi thuê chị trực tiếp, có lẽ chị sẽ nhận được nhiều tiền hơn và chúng tôi cũng trả ít hơn. Chúng tôi chọn đi qua công ty vì cần một sự bảo đảm. Mong muốn của chúng tôi là bình thường, mong muốn nhận được nhiều hơn từ công sức của chị cũng bình thường, và doanh nghiệp đứng giữa để tạo niềm tin cũng có lý do tồn tại.
Có lẽ, một hệ thống an sinh đủ tốt phải bắt đầu từ việc chấp nhận những điều bình thường ấy, rồi làm thêm phần khó hơn: dù một người làm qua công ty, qua ứng dụng hay trực tiếp cho từng gia đình, những bảo đảm căn bản của một đời lao động vẫn có thể đi cùng họ. Bởi ốm đau, tai nạn và tuổi già chưa bao giờ hỏi chúng ta đang ký loại hợp đồng lao động nào.

