Điểm mặt hình thức, hành vi tiềm ẩn rủi ro về dòng tiền

Chia sẻ tại hội thảo “Quản lý thuế theo dòng tiền: Kinh doanh an tâm, thuế minh bạch” do Báo Tiền Phong phối hợp với Cục Thuế tổ chức sáng 20/5, ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra thuế (Cục Thuế) cho biết, qua công tác quản lý và thực tế kiểm tra, cơ quan thuế nhận thấy một số hình thức, hành vi tiềm ẩn rủi ro về dòng tiền đối với công tác quản lý thuế.

Thứ nhất, thông qua hợp đồng vay vốn nội bộ. Công ty mẹ chuyển tiền cho công ty con thông qua các hợp đồng vay với lãi suất cao bất thường hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất. Các khoản vay có thể không thực sự phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà nhằm điều chuyển tiền giữa các đơn vị, qua đó điều chuyển lợi nhuận, doanh thu, chi phí nhằm giảm lợi nhuận tính thuế.

Đối với dấu hiệu này, cơ quan thuế có thể xem xét bản chất dòng tiền để xác định lại lãi suất cho vay, xem xét tính hợp lý của chi phí lãi vay tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc việc khống chế chi phí lãi vay theo quy định về giao dịch liên kết và công thức EBITDA (lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao) để truy thu, xử phạt thuế.

ong Trung ban kiem tra thue.jpg
Ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra thuế (Cục Thuế).

Thứ hai, thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ. Công ty mẹ bán hàng cho công ty con với giá bất thường hoặc công ty con mua các dịch vụ quản lý, tư vấn, giám sát từ công ty mẹ với giá không hợp lý. Một số dịch vụ có thể không phát sinh thực tế hoặc phát sinh chi phí cao nhằm điều chỉnh tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế và tăng khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào.

Theo ông Trung, cơ quan thuế có thể xem xét hồ sơ, chứng từ để điều chỉnh chi phí tính thuế, giảm khấu trừ thuế GTGT đầu vào hoặc xem xét rủi ro đối với hóa đơn không hợp pháp nếu dịch vụ không có thật.

Thứ ba, thông qua hợp đồng hợp tác đầu tư, phân chia lợi nhuận. Một số doanh nghiệp hợp tác đầu tư, góp vốn nhưng phân chia lợi nhuận không tương xứng với phần vốn góp, ghi nhận lợi nhuận về các đơn vị được hưởng ưu đãi thuế.

Cơ quan thuế có thể xem xét tính hợp lý của các điều khoản hợp đồng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp để nhận diện việc tận dụng ưu đãi thuế hoặc điều chuyển lợi nhuận, từ đó xác định lại lợi nhuận tương xứng và truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ tư, thông qua các khoản tạm ứng kéo dài. Doanh nghiệp chuyển tiền giữa công ty mẹ và công ty con hoặc chuyển cho cá nhân dưới hình thức tạm ứng kéo dài, không rõ mục đích hoặc tài trợ phi thương mại.

Theo cơ quan thuế, có thể xem xét bản chất các khoản này để xác định đó là doanh thu hoặc thu nhập khác nhằm truy thu, xử phạt thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp khoản tài trợ đi kèm các điều kiện về sửa chữa, bảo hành, khuyến mại, quảng cáo thì có thể bị truy thu, xử phạt về thuế GTGT.

Thứ năm, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại điện tử. Nhiều trường hợp phát sinh doanh thu, dòng tiền lớn nhưng không đăng ký, kê khai nộp thuế hoặc phân chia doanh thu qua nhiều tài khoản khác nhau để che giấu dòng tiền, giảm nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, có trường hợp kết hợp giao dịch qua ngân hàng và tiền mặt.

Ông Trung cho biết, cơ quan thuế có thể kết hợp dữ liệu từ ngân hàng, sàn thương mại điện tử và các nguồn dữ liệu khác để truy thu, xử phạt về thuế GTGT, thuế thu nhập cá nhân, xử phạt hành vi bán hàng không xuất hóa đơn hoặc cả hành vi trốn thuế.

Ngành thuế đã nắm thông tin khoảng 250 triệu tài khoản ngân hàng

Ông Đặng Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết, cơ quan thuế hiện nay không còn quản lý theo cách đi đếm hộ kinh doanh trên đường phố hay vào cửa hàng để đếm doanh thu, mà đang chuyển mạnh sang quản lý bằng dữ liệu. Từ năm 2021 đến nay, dữ liệu hóa đơn điện tử đã hình thành kho dữ liệu lớn ghi nhận gần như toàn bộ giao dịch của nền kinh tế. Cùng với đó là dữ liệu lịch sử tuân thủ thuế của người nộp thuế và hệ thống kết nối thông tin với ngân hàng, sàn thương mại điện tử, đơn vị trung gian thanh toán.

pho cục truong thue.jpg
Ông Đặng Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế.

Dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu tài khoản ngân hàng và dữ liệu kết nối với các cơ quan khác sẽ giúp hình thành môi trường kinh doanh công khai, minh bạch và bình đẳng hơn.

“Hiện ngành thuế đã nắm thông tin khoảng 250 triệu tài khoản ngân hàng, trong đó khoảng 200 triệu tài khoản cá nhân, 50 triệu tài khoản doanh nghiệp. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu rủi ro lớn, giao dịch bất thường hoặc nghi vấn trốn thuế, rửa tiền, ngành thuế yêu cầu thì ngân hàng sẽ phối hợp cung cấp”, ông Minh nói.

Bên cạnh đó, ông cho biết, ngành thuế hiện đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích dữ liệu, chỉ tập trung vào các trường hợp có rủi ro thực sự. Nếu một cá nhân có tài khoản có cả dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và giao dịch phục vụ sinh hoạt cá nhân, cơ quan thuế có thể phân tích, đối chiếu và xem xét trên cơ sở giải trình. Điều quan trọng nhất vẫn là minh bạch.

Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, với số lượng lớn doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh và thương mại điện tử phát triển mạnh, nếu không kết nối hệ sinh thái số giữa ngân hàng, cơ quan thuế và các nền tảng công nghệ thì không thể quản lý doanh thu, chi phí, kiểm soát dòng tiền để quản lý thu đúng, thu đủ thuế.

Việc kết nối này cũng giúp phát hiện kê khai thiếu doanh thu, tăng chi phí, nhận diện giao dịch bất thường, nhất là trong lĩnh vực bất động sản, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số.