Ngân hàng Techcombank vừa tiếp tục tăng lãi suất huy động lần thứ hai trong tháng Ba, đồng thời tiếp tục cộng thêm lãi suất cho khách hàng gửi tiền, nâng lãi suất huy động cao nhất lên 8%/năm.

Theo biểu lãi suất huy động Phát Lộc Online vừa được Techcombank điều chỉnh, ngân hàng cộng thêm 0,8%/năm lãi suất cho khoản tiền gửi trực tuyến mở mới kỳ hạn 6 tháng vào thứ Hai hằng tuần.

Qua đó, lãi suất tiết kiệm khách hàng thực nhận lên đến 8%/năm sau khi được cộng thêm.

Ngoài ra, Techcombank tiếp tục cộng thêm lãi suất đến 1%/năm khi có tiền gửi mở mới vào một thời điểm nhất định dành cho hội viên. 

Bên cạnh việc cộng thêm lãi suất, ngân hàng đồng thời tăng mạnh lãi suất tiền gửi các kỳ hạn 6-12 tháng.

Theo đó, lãi suất tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6-11 tháng tăng mạnh 0,8%/năm lên 7,05%/năm.

Lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết (chưa cộng thêm lãi suất) là 7,25%/năm, được niêm yết cho kỳ hạn 12 tháng, tăng tới 0,9%/năm.

Techcombank vẫn giữ nguyên lãi suất tiết kiệm các kỳ hạn còn lại. Hiện lãi suất ngân hàng niêm yết cho kỳ hạn 1-2 tháng là 4,35%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng 4,65%/năm, kỳ hạn 13-36 tháng 6,35%/năm.

Đây là lần thứ hai trong tháng ngân hàng này tăng lãi suất sau khi tăng lãi suất huy động vào đầu tháng Ba với mức tăng từ 0,2-0,6%/năm các kỳ hạn từ 1-36 tháng. Đồng thời Techcombank cũng là một trong số ít ngân hàng niêm yết lãi suất ngân hàng vượt ngưỡng 7%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng, bên cạnh PGBank, VCBNeo, MBV, và Agribank.

Trước đó, một “ông lớn” trong khối ngân hàng tư nhân là VPBank cũng tăng lãi suất huy động từ 0,1-0,2%/năm với các kỳ hạn tiền gửi từ 12-36 tháng.

Cùng với đó, các “ông lớn” trong khối ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng đồng loạt tăng lãi suất huy động trong tháng Ba. Hiện lãi suất huy động có kỳ hạn dưới 6 tháng tại khối này đã phổ biến ở mức trần 4,75%/năm, trong khi lãi suất kỳ hạn 6-36 tháng cũng đã phổ biến từ 6,8-7%/năm.

Với các ngân hàng còn lại, lãi suất ngân hàng liên tục biến động theo ngày. Một chi nhánh của GPBank tại Hà Nội vừa đẩy lãi suất tiết kiệm lên cao nhất 9%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng, đồng thời chi nhánh này còn cam kết tặng quà hiện vật cho khách hàng gửi tiết kiệm, từ cốc sứ, mũ bảo hiểm, ô cầm tay,… đến vàng 24K.

Ngân hàng MB sau khi nâng lãi suất tiết kiệm lên đến 7,5%/năm cũng công bố tặng máy hút bụi, máy lọc không khí, chuyến du lịch châu Âu hoặc châu Á. Điều kiện chỉ cần khách hàng gửi tiết kiệm từ 100 triệu đồng, kỳ hạn từ 2 tháng trở lên.

Tại MBV, một ngân hàng thuộc hệ sinh thái MB, khách hàng gửi tiết kiệm từ 400 triệu đồng kỳ hạn 6 tháng sẽ nhận được lãi suất lên đến 8%/năm (lãi suất đang niêm yết 7,2%/năm).

Còn tại VIB, lãi suất tiết kiệm lên đến 7,9%/năm áp dụng cho kỳ hạn 6-11 tháng từ ngày 1/3-31/3/2026 (lãi suất đang niêm yết từ 5,7-5,8%/năm). Điều kiện duy nhất là khách hàng chỉ cần gửi tiết kiệm trực tuyến từ 2 triệu đồng trong thời gian này. 

Tại Ngân hàng số Cake by VPBank, lãi suất ngân hàng công bố lên đến 9%/năm sau khi cộng thêm lãi suất 1,1%/năm cho khách hàng gửi tiền từ kỳ hạn 6 tháng.

Còn tại SeABank, ngân hàng tiếp tục duy trì chính sách cộng thêm lãi suất 0,2%/năm cho khách hàng gửi từ 100 triệu đồng, các kỳ hạn 6, 12, 13 tháng.

Theo thống kê từ đầu tháng 3 đến nay đã có 18 ngân hàng tăng lãi suất huy động gồm: VPBank, Sacombank, VietBank, MB, SHB, NCB, Techcombank, VietinBank, BIDV, BVBank, Vietcombank, Agribank, Saigonbank, OCB, MBV, Bac A Bank, TPBank, VCBNeo. 

Trong đó, VPBank, MB, VietinBank, Sacombank, Agribank đã có hai lần tăng lãi suất huy động trong thời gian này.

LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TRỰC TUYẾN THEO NIÊM YẾT CỦA CÁC NGÂN HÀNG (%/NĂM)
NGÂN HÀNG 1 THÁNG 3 THÁNG 6 THÁNG 9 THÁNG 12 THÁNG 18 THÁNG
AGRIBANK 4,75 4,75 7 7 7 7
BIDV 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 6,8
VIETINBANK 4,75 4,75 5,5 5,5 5,9 5,9
VIETCOMBANK 4 4,5 5,5 5,5 5,9 5,9
ABBANK 3,8 4 6,3 6,3 6,3 6,3
ACB 4,6 4,65 6,35 6,45 6,55
BAC A BANK 4,55 4,55 7,05 7,05 7,1 7,1
BAOVIETBANK 4,75 4,75 6,2 6,2 6,25 6,25
BVBANK 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 7,2
EXIMBANK 4,6 4,7 5,4 5,3 5,3 5,8
GPBANK 3,9 4 5,55 5,65 5,85 5,85
HDBANK 4,2 4,3 5,5 5,3 5,8 6,1
KIENLONGBANK 4,4 4,4 5,7 5,4 6 5,35
LPBANK 4,7 4,75 6,8 6,8 7 7,1
MB 4,5 4,7 5,9 5,9 6,55 6,55
MBV 4,6 4,75 7,2 7,2 7,5 7,5
MSB 4,1 4,1 5,2 5,2 5,8 5,8
NAM A BANK 4,6 4,75 5,7 5,6 5,7 5,9
NCB 4,7 4,75 6,4 6,4 6,6 6,8
OCB 4,75 4,75 6,5 6,5 6,8 7
PGBANK 4,75 4,75 7,1 7,1 7,2 6,8
PVCOMBANK 4,75 4,75 5,8 5,8 6,1 6,8
SACOMBANK 4,75 4,75 6,8 6,8 6,8 6,8
SAIGONBANK 4,75 4,75 6,5 6,5 6,8 7
SCB 1,6 1,9 2,9 2,9 3,7 3,9
SEABANK 3,95 4,45 5,35 5,49 5,8 6,25
SHB 4,6 4,65 6 6,1 6,3 6,5
TECHCOMBANK 4,35 4,75 7,05 7,05 7,25 6,35
TPBANK 4,75 4,75 6,25 6,25 6,45 6,45
VCBNEO 4,75 4,75 7,2 7,2 7,2 7,2
VIB 4,75 4,75 5,7 5,8 6,5 5,9
VIET A BANK 4,6 4,75 6,1 6,1 6,2 6,3
VIETBANK 4,6 4,6 6,1 6,2 6,3 6,6
VIKKI BANK 4,7 4,7 6,5 6,5 6,6 6,6
VPBANK 4,75 4,75 6,6 6,6 6,8 6,6