Dự thảo các văn kiện trình Đại hội 14 của Đảng đặt ra nhiều mục tiêu kinh tế rất cao, trong đó có mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm giai đoạn 2026-2030 và GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030. 

Mục tiêu có thể đạt được nếu tạo ra những đột phá thực sự

Trao đổi với VietNamNet, ông Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM cho rằng đây là những mục tiêu đầy khát vọng. Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những mục tiêu này nhờ những đột phá thực sự về thể chế, mô hình tăng trưởng và năng suất lao động thay vì tiếp tục đi theo lối mòn cũ, nói cách khác là không thể giải những "bài toán" này theo lối cũ.

tran quang thang.jpg
Ông Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM

Ông Trần Quang Thắng: Có thể nói nhiệm kỳ Đại hội 13 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khó khăn, thậm chí chưa từng có tiền lệ. Đại dịch Covid-19 gây cú sốc lớn cho kinh tế toàn cầu kéo theo suy giảm tăng trưởng, lạm phát gia tăng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt hơn. Trong khi đó, thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. 

Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam vẫn giữ được ổn định kinh tế - xã hội và đạt nhiều kết quả quan trọng là rất đáng ghi nhận.

Tăng trưởng kinh tế của nước ta được duy trì ở mức khá so với mặt bằng chung của thế giới. Ba đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực tiếp tục được thúc đẩy và tạo ra những chuyển biến rõ nét. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu có bước tiến tích cực, cho thấy rõ cam kết phát triển bền vững. 

Ở lĩnh vực văn hóa - xã hội, văn hóa ngày càng được khẳng định là nền tảng tinh thần và nguồn lực cho phát triển. Nhiều địa phương đã triển khai các chương trình phát triển văn hóa bài bản hơn.

w truc thang 4 4088 297.jpg
Năm 2025, Việt Nam giữ được ổn định kinh tế - xã hội và đạt nhiều kết quả quan trọng

Tuy nhiên, dự thảo văn kiện cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế như: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt như kỳ vọng, năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng còn thấp; cải cách thể chế, cải cách hành chính chưa đồng đều; một số vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, an sinh vẫn còn bất cập. 

Theo tôi, việc nhìn thẳng vào những tồn tại này là cần thiết, bởi đây chính là tiền đề để xác định đúng mục tiêu, định hướng và giải pháp cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Các mục tiêu dự thảo văn kiện đặt ra về lĩnh vực kinh tế bao gồm: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức 1-1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 50%.

Ông đánh giá ra sao về các mục tiêu này, nhất là với 2 chỉ tiêu "phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên” và “GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD"?

Các mục tiêu được đặt ra trong dự thảo phải gắn với định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, kinh tế xanh và nâng cao năng suất.

Còn về 2 chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người, có thể nói đây là những mục tiêu rất cao và đầy tham vọng. Nếu nhìn lại, tăng trưởng bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025 ước khoảng 6,3%/năm. Năm 2025, tăng trưởng GDP đạt trên 8% - mức cao nhất nhiều năm.

Tuy nhiên, tôi cho rằng để duy trì tăng trưởng bình quân 10%/năm trong suốt 5 năm liên tiếp là thách thức rất lớn. Trong hơn 30 năm qua, nước ta chỉ đạt tăng trưởng 2 con số trong một vài năm đầu thời kỳ Đổi mới.

Điều này cho thấy, nếu muốn đạt mục tiêu 10%/năm, Việt Nam không thể tiếp tục tăng trưởng theo cách cũ. Động lực tăng trưởng phải chuyển mạnh sang nâng cao năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao. Mục tiêu để năng suất nhân tố tổng hợp đóng góp trên 55% và năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm cho thấy yêu cầu cải cách là rất mạnh mẽ.

Còn với mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD vào năm 2030, nếu so với mức khoảng 5.000 USD năm 2025 thì thu nhập bình quân đầu người phải tăng khoảng 11-12% mỗi năm trong vòng 5 năm. Điều này chỉ khả thi nếu tăng trưởng GDP duy trì ở mức cao, lạm phát được kiểm soát tốt và cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang công nghiệp, dịch vụ có giá trị thực sự cao. 

Nói cách khác, đây là mục tiêu có cơ sở về mặt định hướng, đòi hỏi chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện vượt trội so với giai đoạn trước.

Không thể kỳ vọng tăng trưởng 10%/năm nếu vẫn dựa nhiều vào bất động sản hay khai thác tài nguyên

Có mục tiêu rồi, theo ông, đâu là những việc then chốt cần làm để hiện thực hóa?

Nhìn chung, các mục tiêu kinh tế trong dự thảo văn kiện Đại hội 14 mang tính khát vọng, đột phá và định hướng chiến lược, phù hợp với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa, cần cải cách thể chế sâu rộng, nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng; phát triển mạnh công nghiệp chế biến - chế tạo và kinh tế số, tận dụng cơ hội từ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Và theo tôi, điểm then chốt đầu tiên là phải tạo ra đột phá thực sự về thể chế. Chính sách phải ổn định, minh bạch và dễ dự báo để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Bên cạnh đó, nền kinh tế cần được tái cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa hiện đại, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo phải trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu. 

dai hoi 14 1.jpg
Phố phường Hà Nội rực rỡ cờ hoa chào mừng Đại hội 14 của Đảng

Chúng ta không thể kỳ vọng tăng trưởng 10%/năm nếu vẫn dựa nhiều vào bất động sản hay khai thác tài nguyên. Vì thế, nâng cao năng suất lao động là yếu tố quyết định. Việc này đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp, đào tạo lại lực lượng lao động và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào tự động hóa, số hóa.

Bên cạnh đó, kinh tế số cần được xác định rõ là một động lực tăng trưởng chủ đạo, giúp tăng năng suất và tạo ra các giá trị mới. Cùng với đó là chuyển đổi xanh, phát triển năng lượng sạch, đô thị hóa thông minh và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là những điều kiện không thể thiếu nếu muốn hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng cao đã đặt ra.

Vừa qua, Bộ Chính trị, Quốc hội ban hành rất nhiều cơ chế chính sách nhằm tạo động lực cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, trong đó có “bộ tứ nghị quyết trụ cột” (các nghị quyết số 57, 59, 66 và 68). 

Ông nhìn nhận như thế nào về các nghị quyết này trong công cuộc chuyển mình của đất nước ở giai đoạn tới?

Các nghị quyết này không chỉ mang tính định hướng mà thực sự tạo ra một khung chiến lược mới cho sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới - kỷ nguyên phát triển dựa trên khoa học - công nghệ, hội nhập sâu rộng, pháp luật hiện đại và kinh tế tư nhân năng động.

Bốn nghị quyết kết hợp tạo thành hệ sinh thái chính sách hoàn chỉnh cho mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và hội nhập.

Trong đó, Nghị quyết 57 được đánh giá là “kim chỉ nam cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới” và là yếu tố quyết định để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu. Khi kết hợp với Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, Việt Nam có cơ hội hình thành các tập đoàn công nghệ số “Make in Vietnam”, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết 66 về pháp luật giúp giảm rủi ro thể chế, tăng tính minh bạch, tạo niềm tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng cao trong dự thảo văn kiện Đại hội 14.

Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, tận dụng các FTA thế hệ mới, nâng cao vị thế quốc tế.

Bộ tứ nghị quyết tạo ra 4 trụ cột chiến lược, khi kết hợp, chúng tạo ra một mô hình phát triển mới và đây chính là mô hình mà nhiều quốc gia Đông Á đã đi theo để bứt phá. Nói cách khác, bộ tứ nghị quyết là bước chuẩn bị chiến lược để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và hiện đại.

Đại hội 14 của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính bản lề chiến lược. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường 40 năm đổi mới mà quan trọng hơn là định hình con đường phát triển cho những thập niên tới, gắn trực tiếp với 2 mục tiêu 100 năm của đất nước.

Đây không chỉ là một kỳ đại hội định kỳ mà là dấu mốc mở ra một giai đoạn phát triển mới, nơi Việt Nam phải chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, năng suất và đổi mới sáng tạo.

Thành công của Đại hội 14 và việc hiện thực hóa các quyết sách được đưa ra sẽ có ý nghĩa quyết định đối với khả năng Việt Nam đạt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Ông Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM 

Phần tiếp theo: Cơ hội rất lớn lẫn thách thức rất mới cho TPHCM